Cũng may, sau lễ khai giảng, còn ba ngày nữa Diệu Loan mới chính thức bước vào khóa học, nên ngay sáng hôm sau cô đã có thể đưa Phan Lữ lên hang đá. Tối ấy Phan Lữ về xin cơ quan cho nghỉ phép. Suốt đêm anh không ngủ, cứ đi đi lại lại trong căn phòng khách sạn, rồi có lúc ra đứng ngoài ban công cho tới khi sương xuống ướt lạnh cả hai vai mới quay vào. Anh ngồi bên cửa sổ đăm đăm hướng về đỉnh núi phía xa mà anh đoán là nơi cha anh đã sống và giờ đang nằm đó. Anh cũng hướng cả về phía mà anh đoán là nơi có ngôi nhà gỗ nhỏ đang chở che giấc ngủ của một người con gái tuyệt vời mà số phận kỳ lạ đã dun dùi cho anh được gặp.
Tờ mờ sáng, anh phóng xe máy ra đi.
Diệu Loan cũng dậy rất sớm. Loan vừa nắm xong nắm cơm để dùng cho bữa trưa thì nghe tiếng xe máy dưới dốc, rồi thấy Lữ cưỡi xe phóng vào sân. Anh mặc bộ đồ đi núi, nom gọn, khỏe.
- Xong chưa em, mình đi chứ? - Lữ hỏi.
- Anh đưa xe lên thềm đi, mình đi bộ mà.
Ừ nhỉ, anh quên khuấy mất - sực nhớ ra một việc, anh vội kêu - ấy chết, anh chưa mua hương, cũng chưa mua đồ ăn trưa gì cả, để anh quay ra phố mua, chờ anh một chút.
- Khỏi, anh!Em chuẩn bị cả rồi, nhưng món này nếu anh không quen ăn thì hãy đi mua thứ khác. Còn hương thì ở nhà đã có sẵn.
- Em chuẩn bị món gì thết - Cơm nắm muối vừng. Anh ăn được không?
- Được chứ?
Cơm nắm muối vừng là món bố anh thích lắm đấy.
Hồi bác còn, thỉnh thoảng em gặp bác đi vẽ trong rừng, hai bác cháu thường ăn trưa bằng cơm nắm muối vừng.
Khi không có cơm nắm, bác thường ăn có một chiếc bánh mì với muối và quả dưa chuột. Mà bánh mì hồi ấy thì kinh khủng lắm, anh không tưởng tượng được đâu...
Loan đem cho Lữ một chiếc mũ nan rộng vành đã cũ.
- Anh đội đi. Đây là chiếc mũ của bác em còn giữ được Em giao lại cho anh luôn đó.
Loan mặc chiếc quần thun đen, chiếc áo pun màu kem, loại áo quần cũ rẻ tiền người ta thường bán ở vỉa hè, cô vẫn dùng khi đi rừng, đầu đội chiếc mũ cối bộ đội của ba thời kháng chiến còn để lại.
- Anh Lữ, lại đây em bảo!
Loan đưa Lữ tới trước bức tranh cây Chò-nghìn- Tuổi. Lữ ngơ ngác chưa hiểu có việc gì, nhưng thấy bộ dạng Loan đầy vẻ quan trọng và thành kính, anh cũng nghiêm túc đứng bên Loan im lặng chờ đợi. Loan bảo:
- Đây là bức tranh cuối cùng của bác. Hồi bác còn, em vào rừng, mỗi khi gặp bác, hai bác cháu lại ngồi dưới gốc cây chò này thổi nhạc lá. Cây chò này đã hàng nghìn tuổi, mọc bên cái thác nước đổ xuống vực nước mà anh xuýt chết đuối đó. Cây chò này đã bị người ta chặt hạ đem xuất khẩu. Khi cây chò còn, thì bứt bất cứ chiếc lá nào em cũng thổi nhạc được hết. Nhưng từ khi cây chò bị chặt hạ, thì mọi chiếc lá không còn ngân lên tiếng nhạc được nữa.
- Anh vẫn thấy em thổi nhạc ngoài bờ hồ đấy thôi, mới hôm qua em cũng vừa thổi nhạc lá trong nhạc viện mà?
- Từ từ em nói cho mà nghe. Em còn thổi nhạc lá được là nhờ có một chiếc lá đặc biệt. Anh hãy xem...
Nói đoạn, Loan thì thầm khấn:
ơi Chò nghìn tuổi ơi.
Tôi cầu khẩn xin Người.
Ban cho tôi chiếc lá.
Tôi tấu nhạc dâng đời...
lời khấn vừa dứt, cây chò trong tranh rung động tán lá Rồi thì không phải một mà những hai chiếc lá tách ra nhè nhẹ rơi xuống lòng bàn tay Loan. Loan ngạc nhiên, rồi chợt hiểu. CÔ nói: .
- Mọi khi chỉ có một chiếc lá thôi, hôm nay có những hai lá là vì có anh.
Loan đặt vào tay Lữ một chiếc lá, trong lúc Lữ còn như bàng hoàng chưa dám tin là thật cái sự kỳ diệu vừa được chứng kiến. Lữ cứ xát đi xát lại hai đẩu ngón tay trên chiếc lá xem có phải là lá thật hay không.
Hoàn toàn là một chiếc lá thật, xanh tươi, thấm hơi mát vào da tay. Bất giác, anh nâng chiếc lá lên ngang trán cúi đầu kính cẩn để tạ ơn, miệng lầm rẩm những gì không rõ. Loan bảo:
- Anh hãy giữ lấy chiếc lá. Thôi, mình đi, anh?
Loan lấy thêm chiếc rựa và chiếc liềm bỏ vào gùi đeo sau lưng. Lữ giành lấy đeo. Anh có vẻ thích thú với chiếc gùi. Hai người hăm hở đi vào rừng.
Loan thổi mấy khúc nhạc lá. Rồi vừa đi cô vừa hướng dẫn cho Lữ. Chỉ một lát, anh đã thổi được, tất nhiên còn rất vụng về, nhưng anh cũng đắc ý lắm.
Loan kể:
- Hồi xưa, có một thằng chuyên đón đường bắt nạt em, nó bắt em dạy nó thổi nhạc lá, em dạy hoài mà nó chỉ toàn thổi "phít phịt" đến là tức cười. Chỉ vì muốn tìm lá để làm sao cho nó thổi được mà em lao vào bụi rậm bị rắn cắn, nếu không có bố anh đến cứu em thì em chết ngỏm từ hồi đó rồi.
Loan kể tiếp cho Lữ chuyện bố anh đã hướng dẫn Loan cách thổi điệu nhạc báo nguy như thế nào:
chuyện hai bác cháu đã từng trò chuyện với nhau từ xa bằng nhạc lá như thế nào. Lữ cứ tròn mắt ngạc nhiên, và anh còn ngạc nhiên hơn nữa vì những việc lạ lùng như thế mà lại có vẻ hoàn toàn bình thường đối với Loan.
Đến một đỉnh dốc, Loan dừng lại chỉ mấy gộp đá, bảo Lữ:
- Chỗ này hồi kháng chiến bố anh có lần bị phục kích xuýt chết. Con đường chúng mình đang đi cũng chính là con đường hồi kháng chiến bác thường đi.
Đến vùng rừng phía đông thành phố, Loan nói:
- Khu vực này bác đoán là khu vực mẹ anh bị bọn Mỹ ném từ trên máy bay trực thăng xuống.
Lữ toan dừng lại, Loan giục:
- Mình hãy đi lên hang. Từ chỗ bia tưởng niệm mẹ anh, có thể nhìn bao quát được cả vùng này.
HỌ lội qua con suối lớn, qua vườn cà phê. Loan bảo:
- Đây là vườn cà phê của bác, bấy lâu em chăm bón thu hoạch. Từ nay, em giao lại cho anh.
Lữ cười:
Em khéo bày đặt. Anh đâu có làm được. Em cứ làm tiếp đi Mà bây giờ em phải đi học ở nhạc viện, cũng chẳng làm nữa làm gì. để anh gửi tiền em thuê người ta làm.
- Cần gì phải thuê, chỉ các ngày chủ nhật cũng làm được Em làm lụng quen rồi.
Qua vườn cà phê, họ tới ngôi nhà. Từ sau lần thám hiểm hang đá, tuần nào Loan cũng đến đây làm cỏ chăm bón cà phê, làm cỏ cho vườn tượng và quét dọn ngôi nhà, nên quang cảnh đã mất hẳn vẻ hoang dã quạnh hiu. Mấy tấm lá mây trên mái nhà bị tốc cũng đã được lợp lại Loan mở cửa. Lữ theo Loan bước vào. Loan mở tiếp các cửa sổ. Trước mắt Lữ là một căn phòng đầy ánh sáng, tuy trống trải nhưng lại mang không khí như vẫn có người đang ở. Một chiếc giá vẽ dựng ở gần góc phòng.
Cách giá vẽ mấy bước, kê sát vách là chiếc giường một, không phải loại giường mua ở cửa hàng, nhìn qua cũng biết ngay là do cha anh tự đóng lấy, đơn giản mà đẹp một cách độc đáo. Trên giường phủ một tấm dù hoa màu cỏ úa. ở góc khác gần cửa sổ, một chiếc võng dù mắc chéo giữa hai vách. Sát vách chính giữa có chiếc bàn thấp, là một phiến gỗ cưa từ gốc cây còn giữ nguyên hình thù méo mó tự nhiên, hai chiếc ghế là hai khúc gỗ tròn dựng đứng. Trên mặt bàn có bộ ấm chén pha trà bằng gốm, bộ phin và ly pha cà phê, một chiếc chai nhỏ dẹp vốn là chai rượu tây và hai cái chén hạt mít. Tất cả các vật dụng ấy đều được bọc hoặc phủ ni lon cẩn thận.
- Em sắp đặt y như lúc bác còn, anh ạ !Loan nói.
- Anh cám ơn em. Cám ơn em rất nhiều... Anh không biết nói thế nào... Em làm cho anh có cảm giác bố anh vẫn đang sống trong ngôi nhà này, ông chỉ đi vê đâu đó ngoài rừng, lát nữa sẽ về...
Em chưa hình dung là lại sớm được gặp anh. Trong giấy ghi các điều dặn dò, bác ghi: "Nếu sau này con có gặp Phan Lữ con ta..., em đọc mà cứ nghĩ chả biết anh đang ở tận đâu, chả biết bao giờ anh mới về đây... Em sắp đặt các thứ trong nhà nguyên vẹn như xưa vì em luôn luôn mường tượng là bác đang sống. Tuần nào đi làm cỏ cà phê và săn sóc vườn tượng em cũng vào đây một lát, em thổi nhạc lá và em có cảm giác bác cũng đang ở bên em cùng thổi nhạc lá...
Lữ ngồi xuống sàn nhà, cạnh chiếc giường. Anh úp mặt lên tấm dù hoa. Nước mắt anh lặng lẽ thấm ướt tấm dù. Loan bảo:
Tấm dù và cái võng này bác dùng từ hồi kháng chiến, có lần bác đã cho em xem tấm ảnh bác choàng tấm dù ngồi trên võng trong rừng.
- Ở nhà anh cũng có tấm ảnh ấy. Má Anh Thư của anh cũng còn giữ hai chiếc võng, một chiếc của má, một chiếc của mẹ Uyên. Chính chiếc võng của mẹ Uyên mắc ở kho gạo là chiếc võng mẹ anh vẫn nằm ru anh cho tới khi mẹ hy sinh. Mãi gần đây, má Anh Thư mới cho anh biết má không phải là mẹ đẻ của anh, rồi má kể về mẹ Uyên. Má cũng kể y như bố anh đã kể cho em trong cuốn vở. Anh không biết là ba anh lại tìm về sống ở đây.
Anh chỉ biết là mẹ Uyên của anh đã hy sinh trong một cánh rừng gần thành phố Núi. Cái hôm anh bị ngã xuống vực và được em cứu chính là hôm anh đi lang thang một mình trong rừng, anh cứ nghĩ miên man về những giây phút cuối cùng của mẹ anh, anh nhìn lên trời cao và tưởng tượng thấy mẹ anh bị bọn Mỹ ném từ trên máy bay trực thăng rơi xuống một chỗ nào đó quanh đây. Khi đi qua thác, anh bị trượt chân, thế là ngã xuống vực. Về sau, anh thường nghĩ, chính hôm đó linh hồn mẹ anh đã dun dũi...
Lữ bỗng ngừng bặt. Anh định nói "linh hồn mẹ anh đã dun dũi cho anh được gặp em..." nhưng lại không dám nói. Tuy vậy, Loan cũng đoán được điều anh định nói. Loan đỏ bừng mặt. CÔ hỏi:
- Anh đừng mắng em tò mò nhé, sau khi bố anh ra đi, rồi má Anh Thư của anh có lấy ai không?
- CÓ BỐ anh ra đi, để lại cho má anh cuốn sổ lương hưu để nuôi anh, một bức thư bảo má anh phải lập gia đình mới, một tờ đơn ly hôn ông ký sẵn. Thời gian đầu má anh không chịu thuận theo ý bố anh, mãi sau má anh mới nhận lời lấy ba anh bây giờ. Ba anh là anh về đằng bác với mẹ Uyên của anh, lại là bạn học thời phổ thông của bố anh, ba anh thầm lặng yêu má Anh Thư từ thời má còn là sinh viên, khổ thế, ông chẳng lấy ai cả, mãi khi bố anh ra đi, ba anh mới tới ngỏ lời. Ba anh là một nhà nghiên cứu rừng, khi anh vào đại học, cũng theo ngành của ông. Lấy nhau được một năm, má anh đi làm nghiên cứu sinh ở Đức, cùng lúc ba anh cũng được bên Đức mời sang giảng dạy. Thế là hai ông bà đưa anh cùng đi. Anh học trung học rồi đại học bên ấy. Tốt nghiệp đại học, thấy cơ quan Liên hiệp quốc tuyển người, anh xin dự tuyển, được thu nhận làm việc, anh xin vào tổ công tác thực hiện chương trình khôi phục rừng ở Việt Nam, thế là anh về nước, không ngờ lại về đúng thành phố Núi này và được gặp em, được em đưa tới đây...
- Ba má anh vẫn ở bên Đức à?
Vẫn ở bên ấy. Tối qua anh gọi điện cho má anh, bà mừng lắm. Nếu thu xếp được công việc, một ngày gần đây bà sẽ về.
Anh được mấy người em nữa?
- Anh chỉ có một đứa em gái thôi, nó cũng cỡ tuổi em.
- Mình đi lên hang, anh nhỉ...?
Ngôi mộ của họa sĩ Phan Thạch vẫn luôn luôn được một đàn bướm đủ màu đậu sít nhau thành tấm thảm hoa phủ lên như hồi giờ vẫn thế. Lữ ngạc nhiên:
- Sao lại hay thế, Loan?
- Em không biết, vẫn thế đấy, ngay từ lúc em vừa đắp mộ cho bác xong. Em nghĩ rằng bác yêu tất cả muôn loài và muôn loài đều yêu bác. Anh có tin không, khi bác mất, có lai con nai và hai con gấu tới nằm phục chỗ mô đá kia kìa.
Loan lấy hương ra châm, trao cho Lữ. Anh cầm hương đứng khấn vái rồi cắm lên mộ cha và bia tưởng niệm mẹ. Loan cắm hương tiếp và thì thầm kể cho Lữ nghe về giây phút cuối cùng của cha anh.
Lữ đưa tay chùi lớp bụi phủ trên bức phù điêu mà cha anh đã tạc chân dung mẹ anh trên tấm bia. Anh chỉ biết mặt mẹ qua mấy bức ảnh chụp thời sinh viên. Mẹ anh đẹp lắm. Cha anh đã cố gắng xiết bao để tái hiện phần nào vẻ đẹp ấy trong bức phù điêu.
Lữ ngơ ngẩn nhìn xuống vùng rừng mênh mông xơ xác dưới xa, mờ mờ trong nắng bụi. Dưới ấy, ở một chỗ nào đó, ngày xưa có một cái kho gạo núp trong tán rừng. CÓ một chiếc võng dăng giữa hai cái cây cạnh kho. Trên võng có một đứa bé bốn tháng đang nằm ngủ.
Đứa bé ấy là anh. Đứa bé ấy đã lớn thành Phan Lữ hôm nay là nhờ mẹ đã cố thu hút làn đạn của bọn Mỹ về phía bà.
Loan đưa Lữ dạo quanh vườn tượng và thắp hương các mộ liệt sĩ. Sau đó họ vào hang. Hai người lau bụi bậm trên số tượng ở phần hang lớn ngoài cùng, rồi mỗi người một chiếc đèn pin, họ chui vào cái hành lang hẹp và tối để vào bên trong. Loan đi trước dẫn đường. Loan không bỡ ngỡ và sợ sệt như khi vào đây lần đầu một mình, nên họ đi khá nhanh. Chẳng mấy chốc, họ đã tới khoang hang lớn thứ hai, Loan tắt đèn và bảo Lữ cũng tắt đèn. Hang hiện ra trong một thứ ánh sáng xanh mờ huyền ảo. Loan lại bảo:
- Anh cứ đứng yên đó nhé.
Lữ đứng yên, không hiểu Loan định làm gì. Rồi anh thấy Loan tiến đến vách đá đối diện đưa tay lên gõ vào vách. Một điệu nhạc lạ lùng ngân lên. Nhạc đá! Nhạc âm âm trong hang, truyền trong đá. Lữ thầm kêu: "Cái hang này tuyệt quá"!Một ý định mới, tuy còn lờ mờ xuất hiện trong đầu anh. Quan sát toàn bộ khu vực hang có nhạc đá này thấy rất rộng, anh gật gù đắc ý.
Loan đưa Lữ sang khoang hang lớn thứ ba. Rồi đến trên các bậc đá. Loan bảo:
- Trong này có chứa các thứ của bác để lại.
Hai người khiêng những nắp đá đậy trên các bậc xuống nền hang. Dưới ánh đèn pin, thấy trong các hõm đá hiện ra những cuộn tròn, cái dài, cái ngắn, tất cả đều được bọc ni lông cẩn thận. Trong hõm đá ở bậc trên cùng, nằm giữa các cuộn tròn, có một tờ giấy.
Cầm lên, họ cùng đọc những dòng chữ sau đây: "Phan Lữ con! Bố tin rằng một ngày nào đó con sẽ tìm tới chốn này. Đây là tất cả những gì mà bố đã làm được từ khi xa con và Anh Thư má con. Bố trao lại cho con với hy vọng con sẽ có cách tốt nhất để bố tiếp tục dâng hiến cho đời kết quả sáng tạo của mình". Trong một cái hõm đá ở bậc thứ ba, có một bọc giấy dầu, bên ngoài bao ny lông. Mở ra, bên trong là một chiếc dép cao su đen đã mòn cũ, nhìn kỹ thấy vệt máu khô mờ mờ chưa phai, và còn dính đất. Một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ: chiếc dép này có thể là của Châu Uyên". Phan Lữ vội móc trong chiếc xắc đeo bên mình lấy ra một gói. Trong gói là một chiếc dép cao su đen cũng cũ mòn và một chiếc khăn, cả hai thứ đều dính máu. Anh đặt chiếc dép cạnh chiếc dép mà cha anh tìm thấy trong rừng. Hai chiếc dép rất bằng nhau, giống nhau từ đế đến quai - chúng cùng một đôi, đúng là đôi dép của mẹ anh.
Lữ cùng Loan mở thử một số cuộn giấy. Đều là những bức tranh cuộn lại. Loan bảo:
- Em đoán những cuộn còn lại cũng đều là tranh hết. Hồi đầu em thấy trong nhà nhiều lắm, sau chỉ còn mấy bức, em hỏi, bác bảo cất bớt đi rồi, thì ra bác cất vào đây Bây giờ mình cứ để nguyên thế để đem ra cho tiện anh ạ. Mình ra lối khác, có đường thông lên núi.
Loan dẫn Lữ đi. Tới chỗ có lối thông lên sườn núi, họ dùng liềm và rựa dọn sạch cây rậm, lối thông được mở lớn, nhờ vậy chỉ một loáng sau đã khuân hết tranh ra chỗ thềm đá.
Suốt hai tuần tiếp theo, Phan Lữ cho thợ lồng khung một trăm linh hai bức tranh của cha anh để lại Toàn bộ số tranh ấy đều gửi ở nhà Loan chứ anh không đưa về khách sạn. Cũng từ hôm Loan bắt đầu nhập học, Lữ đề nghị được hàng ngày đưa đón cô, Loan vui vẻ nhận lời.
Sách - Truyện Khác
Nhà Vua Trẻ
Oscar Wilde
Nhà Ảo Thuật
Nguyễn nhật Ánh
Người Tốt
Nguyễn nhật Ánh
Người Gái Hầu Của Mỵ Châu
Phạm Hổ
Người Đàn Ông Che Dù
Roald Dahl
Người Bạn Nhiệt Tình
Oscar Wilde
Người Bạn Đồng Hành
Hans Christian Andersen
Ngư Ông Và Biển Cả
Ernest Hemingway
Ngôi Sao Khiêm Tốn
Võ Hồng
Ngoài Song Mưa Bay
Lý Thụy Ý
Nghĩ Về Mẹ
Võ Hồng
Ngày Xưa Có Một Ông Vua
Rabindranath Tagore
Nàng Tiên Cá
Hans Christian Andersen
Nàng Tiên Nhỏ Thành Ốc
Phạm Hổ
Nắng Nhớ Mưa Thương
Trần Tường Vi
Nàng Công Chúa Và Hạt Đậu
Hans Christian Andersen
Năm Tuần Trên Khinh Khí Cầu
Jules Verne
Năm Sài Gòn
Bùi Chí Vinh
Năm Sài Gòn ( Tập 10)
Bùi Chí Vinh
Nữ Sinh Thế Kỷ Mới
Việt Thy



