Cái tin tức mơ hồ về ông Huấn mà người thường trực bên lâm trường số 4 nói với bà Phượng chỉ là một cái tin vu vơ Thực ra, ông Huấn đã bị bắt.
Phải mất sáu ngày sục sạo tìm kiếm qua các bạn hữu đáng tin cậy, ông Cường mới nắm chắc rằng ông Huấn đang bị giam tại trại giam T6.
Thoạt đầu, khi nghe tin ông Cường báo tin ông Huấn bị bắt, bà không thể nào tin ở tai mình. Bà tưởng bà nghe nhầm.
Sao, anh nói sao, anh Huấn bị làm sao?
- Huấn bị bắt, đang bị giam ở trại T6.
- CÓ thật thế không anh? Sao lại có thể vô lý như thế được?
Tin này chính xác đấy. Một cậu lính cũ của tôi và Huấn đã cho tôi biết.
- Sao người ta lại bắt anh ấy? Anh ấy đã làm gì nên tội hả trời?
Bà cảm thấy chới với như đang đi bỗng hụt bước rơi xuống vực. Bà ngồi lặng điếng đi hồi lâu rồi bật khóc.
Bà khóc không ra tiếng. Một nỗi uất ức tủi hờn dâng lên thắt nghẹt lấy cổ.
Bà Tâm ôm lấy bạn, chẳng biết chia sẻ với bạn cách sao ngoài những tiếng thở dài, và khe khẽ dỗ dành:
"Phượng ơi, bình tĩnh lại, bình tĩnh lại...". ông Cường nói:
Để từ từ rồi ta sẽ tìm hiểu xem do đâu mà có sự vô lý này. Bây giờ phải đến trại T6 thăm Huấn.
Bà Tâm tiếp lời chồng:
- Phượng cứ nghỉ đi, Phượng lo chuẩn bị quần áo cho anh Huấn thôi, còn thức ăn và trái cây để mình lo cho.
Trại giam T6 ở cách thành phố gần hai chục cây số, đường xấu lại nhiều dốc. ông Cường đèo bà Phượng, bà Tâm chở giỏ thức ăn và quần áo, ba người trên hai chiếc xe đạp lóc cóc ra đi. HỌ chỉ dùng xe được từng đoạn, còn những đoạn dốc quá phải dắt bộ, mãi hai giờ sau mới tới nơi.
ở phòng trực của trại giam, người sĩ quan trực ban tiếp họ. Sau khi hỏi tên họ từng người, ở đâu làm gì, anh ta hỏi:
Anh chị đến có việc gì?
Cái bộ dạng khệnh khạng của viên sĩ quan vốn quen được thấy người khác cầu lụy mình khiến ông Cường khó chịu lắm, nhưng cố tự kiềm chế, ông ôn tồn đáp:
- Chúng tôi lên thăm người nhà, đồng chí ạ.
Giọng viên sĩ quan lạnh băng:
- Hôm nay không phải ngày thăm.
Anh ta chỉ lên tấm bìa treo trên vách có ghi lịch cho thăm người nhà hàng tuần. ông Cường vội phân bua:
- Thế này đồng chí ạ, người nhà chúng tôi, nghĩa là chồng chị Phượng đây, mới bị bắt, được biết đang bị giam tại trại này.
Người sĩ quan hướng về phía bà Phượng, hất hàm:
- Chồng chị tên gì?
- Chồng tôi tên Huấn, Đặng Trần Huấn.
- Thời gian gần đây không có ai tên như vậy vào trại.
ông Cường vẫn cố dịu giọng, năn nỉ:
- xin đồng chí xem lại giùm cho...
Ngần ngừ một lát. người sĩ quan đứng dậy, bảo:
- Đợi đấy.
Anh ta bước ra ngoài, đi về phía ngôi nhà có vẻ là nhà của Tổng quản trại. Mười lăm phút sau, anh ta trở lại hỏi bà Phượng:
- Hồi nãy chị nói chồng chị là cái gì Huấn?
- Đặng Trần Huấn.
- Đặng Trần Huấn thì có, hồi nãy tôi lại nghe Đặng Văn Huấn.
- Đồng chí làm ơn cho tôi được gặp nhà tôi.
- Không được, trường hợp này đang điều tra, không được gặp bất cứ một ai hết.
- Đồng chí ơi, tôi là vợ anh ấy...
- Vợ cũng không được gặp. Đã có quy định như vậy.
Đây, chị hãy nghe đây.
Anh ta mở cặp bìa các-tông rút từ ngăn kéo ra lục lọi giấy tờ và đọc một điều khoản nào đấy trong một văn bản nào đấy.
Bà Phượng ngẩn ngơ quay nhìn bà Tâm, ông Cường như cầu cứu. Hai vợ chồng ông Cường cố dùng những lời lẽ thật tình cảm để nài nỉ thêm, nhưng vô hiệu.
Người sĩ quan giải thích đi giải thích lại rằng Trại không có quyền giải quyết trái cái quy định, không tin cứ lên hỏi cấp trên thì rõ. Bà Phượng đành gửi lại áo quần và thức ăn cho chồng kèm theo mảnh giãy thăm hỏi viết ngay trước mặt người sĩ quan theo một nội dung được anh ta kiểm duyệt kỹ.
Ba người rời trại giam đúng lúc người lính gác gõ vào quả bom rỗng treo bên cổng hồi kẻng nghỉ trưa. Tiếng kẻng lảnh lót nhói vào lòng họ một nông nỗi khó hiểu, lúc này họ chưa thể tự cắt nghĩa, nhưng nó cứ ám ảnh, ám ảnh không dứt lên cuộc đời họ kể từ ngày hôm nay.
Đường về trở nên xa lắc. Con đường đá ngoằn ngoèo lên xuống qua các dải đồi hoang tẻ ngắt dưới một bầu trời mùa đông xám xịt. Gió táp từng cơn buốt giá. Mặt đường chốc chốc lại cuộn xoáy những luồng bụi đỏ. Qua hết một con dốc, họ ngồi nghỉ chân trên đỉnh đồi bên gốc một cây bạch tùng già đứng trơ trọi. Cả ba đều lặng ngắt. Nói gì rồi cũng lại đụng đến cái nỗi thống khổ quái đản đang tràn ứ tâm can, nên rốt cuộc họ cùng làm thinh.
Bỗng bà Phượng đứng dậy ngó quanh, dường như bà nhận ra dấu vết quen thuộc nào đấy của cảnh vật. Bà chăm chăm nhìn lại con dốc rồi ngước nhìn cây tùng, miệng lẩm bẩm: "Đúng rồi!Đúng rồi?". ông Cường hỏi:
- Đúng gì vậy?
Anh Cường nè! cái trại giam T6 hình như chính là căn cứ cảnh sát dã chiến trước kia.
- Chính thế.
- Thế thì cái chân dốc này đúng là điểm em vượt đường năm 1974 để ra chiến khu. Cái cây tùng này hồi đó cũng đã có rồi, em còn nhớ em cứ vừa chạy qua đường vừa nhìn nó. Đội công tác của anh Huấn đón em ở cánh rừng phía tây đường kia kìa.
- Phải rồi, năm ấy đội công tác của anh Huấn hoạt động ở cánh rừng phía trên này, gọi là đội TB tức là Tây Bắc, còn đội của tôi ở cánh Tây Nam, gọi là đội TN.
Tôi không nghe tin Phượng bị lộ phải ra chiến khu, mãi tới khi về họp hội nghị cán bộ nhận kế hoạch tổng tấn công xuân 1975 gặp Huấn mới được Huấn cho biết và báo luôn là Huấn Phượng hẹn nhau bao giờ giải phóng thành phố sẽ làm đám cưới. Mới đó đã hơn chục năm rồi.
Bà Phượng quay đi giấu hàng nước mắt không kìm nổi ướt dẫm hai gò má. Bao nhiêu kỷ niệm dồn dập hiện về se thắt ruột gan.
Mười lăm mười sáu năm trước, bà Phượng còn là một cô nữ sinh trung học BỒ Đề. Nhà Phượng ở vùng ven. Mẹ Phượng, bà Hai Thùy, dì ruột Phượng, bà Ba Thủy có sạp buôn bán rau quả ở chợ Giữa, ngôi chợ trung tâm của thành phố, là hai cơ sở kháng chiến nòng cốt trong phong trào tiểu thương tại dây. Phượng vừa đi học vừa giúp mẹ buôn bán và đồng thời giúp mẹ giúp dì hoạt động, khi làm giao liên, khi chuyển tài liệu. Nhà Phượng có hai căn hầm bí mật, năm Mậu Thân đã chứa một tiểu đội đặc công ém quân đánh thọc sâu vào thành phố. Tiểu đội trưởng tên Cường, tiểu đội phó tên Huấn, cả hai đều quê ở miền Bắc. Trên đường rút ra sau trận đánh, Huấn bị thương phải nằm lại hầm nhà Phượng và mối tình của họ đã nảy nở từ đấy, thầm lặng nhưng mãnh liệt. Không nói ra, mà tự nhiên hai người cứ lặng lẽ chờ nhau, rồi mãi tới năm 1974, khi gặp lại thì giao ước cùng nhau và đã nên vợ nên chồng. Nào ngờ ngày nay không dưng họ vướng phải một cảnh ngộ ác nghiệt phi lý thế này?
Gió lạnh thổi khô nước mắt trên mặt bà Phượng. Bà quay sang vợ chồng ông Cường:
- Ta về đi. Giờ em đỡ mệt rồi, anh Cường chở Tâm, để em đạp xe một mình.
Từ hôm ấy, sau cơn choáng váng ban đầu, bà Phượng dần dần tỉnh táo và lấy lại được nghị lực, cái nghị lực của con người từng vào sinh ra tử thời đánh giặc. Suy đi ngẫm lại, với tất cả những việc làm của chồng mà bà biết rất rõ, với cái bản tính ngay thẳng và sự liêm khiết của chồng mà bà rất hiểu, bà dứt khoát tin rằng chồng mình đã bị bắt oan. ông Cường thì nhận định: cái tính cương trực của ông Huấn và cái sự ông biết quá nhiều những chuyện kín trong ngành đã là vật cản trên đường đi của bọn chuyên bòn rút tài nguyên rừng để làm giàu. Bà Phượng cũng nghĩ vậy. CÓ một mưu toan ám muội đang nhằm hại ông Huấn của bà.
Ngoài giờ làm việc, bà Phượng cùng ông Cường, bà Tâm chia nhau mỗi người một ngả gõ hết cửa này tới cửa khác. CÓ những cánh cửa mở ra với một lời hẹn, hoặc một cái lắc đầu bất lực, một lời thông cảm đãi bôi, hoặc một sự đồng tình phẫn nộ, cũng có những cánh cửa đóng im ỉm với tấm biển "đi vắng" treo triền miên.
Đêm đêm, bà Phượng thức đến khuya ngồi viết đơn.
Những lá đơn cùng một nội dung phải chép đi chép lại thành nhiều bản để gửi đi nhiều nơi, ngày một chất cao, riêng số bản lưu đã nặng cả mấy cân.
Đơn kêu oan cho chồng, bà Phượng gửi đi như mất hút vào khoảng không. Họa hoằn lắm mới nhận được một tờ giấy có mấy dòng in sẵn báo tin đã nhận được đơn. Ngày nối ngày, bà sống trong ngóng chờ khắc khoải, đến nỗi có khi chỉ một mẩu giấy báo tin đơn sơ vậy thôi cũng khiến bà phập phồng hy vọng ngỡ như vụ việc của chồng sắp được giải quyết.
Từ khi ông Huấn bị bắt, lương ông bị cắt, các tiêu chuẩn tem phiếu để mua gạo thịt theo giá cung cấp của ông cũng bi cắt luôn, đời sống hai mẹ con bà càng bội phần khốn đốn. Bà không còn được làm ở cơ quan cũ nữa mà phải chuyển xuống lâm trường số 4 rất xa nhà, nhưng bà kiên nhẫn chịu đựng hết. Bà chỉ xót xa cho bé Loan. Bé còn quá non yếu trước cơn bão phũ phàng ấy.
Một hôm loan đi học về mếu máo ôm lấy mẹ:
Mẹ ơi!Mẹ ơi!Chúng nó...
Bà cúi xuống bên con:
- Sao? Đứa nào bắt nạt con?
- Không, chúng nó không bắt nạt.
Thế thì sao hở con?
- Chúng nó... Chúng nó cứ chỉ vào con rồi xì xầm với nhau là con thằng tù, chúng nó không chơi với con...
Bé Loan òa khóc, khóc như mưa gió. Thoạt tiên, bà đắng cả họng, chẳng biết nói với con thế nào, chỉ thấy nhói buốt trong lòng vì thương xót đứa con bé bỏng, quá bé bỏng trước cái tai họa mà bà đã đưa lưng che đỡ nhưng cũng không che đỡ nổi. Bà lau nước mắt cho con, cố tự kìm nén để khỏi khóc theo, miệng rên rỉ:
- Nín đi con, nín đi con . . . Mặc kệ chúng nó. . .
- Nhưng mà con tức lắm.
- Việc gì mà tức, chúng nó nào có biết gì. Con chỉ cần biết ba con vẫn luôn luôn là người tốt, ba con đã góp phần cứu nước và chẳng bao giờ làm gì hại cho đất nước. Con có hiểu điều mẹ nói không?
Bé Loan chùi nước mắt, gật gật đầu.
ở trường, Loan học vẫn giỏi. ở nhà, Loan đảm đang hẳn, nhiều việc chẳng cần mẹ phải dặn, Loan đều chu tất. Chủ nhật, em vẫn thường vào rừng, không phải chỉ để hái nấm, mà còn để kiếm thêm các thứ khác đem ra chợ bán. Nấm hái được, không ăn hết, em cũng đem bán. Đặc biệt em còn bán cả những bức tượng tạo ra từ rễ cây khô.
Loan vẫn thổi nhạc lá, có điều trong tiếng nhạc của em nặng trĩu đau buồn. Một lần, vào khoảng thời gian cha em mới bị bắt, Loan đang ngồi thổi nhạc lá trong rừng thì bác Phan Thạch tới. Em ngạc nhiên vì em đâu có thổi điệu nhạc khẩn cấp báo nguy. Em càng ngạc nhiên hơn khi thấy ông không đem cặp vẽ mà chống một chiếc gậy.
Họa sĩ Phan Thạch hiểu vẻ ngạc nhiên của Loan.
ông ôm lấy em:
- Nghe tiếng nhạc, bác biết cháu có chuyện rất buồn, bác cần phải đến với cháu.
Nước da ông vàng bủng, gò má tóp lại, có vẻ đứng không vững. Bé Loan kêu lên:
- Bác ơi, bác ốm phải không?
ông che miệng ho sù sụ, gật đầu xác nhận.
- Bác ơi, bác ốm thế, bác phải nằm nghỉ ở nhà.
- Được được bác ngồi chơi với cháu một lát đã. Nào, cháu cho bác biết cháu có chuyện gì buồn?
Loan kể cho họa sĩ nghe việc cha em bị bắt, và mẹ em đã gửi đơn đi các nơi kêu oan cho cha. ông bảo em:
- Bác cũng tin như mẹ cháu và cháu rằng, ba cháu là một người chân chính, việc này thế nào trước sau rồi cũng sáng tỏ, nhưng cháu ạ, có thể cũng sẽ không nhanh chóng như mình mong muốn đâu, nên phải kiên trì Cháu vẫn học giỏi chứ?
- Dạ, cháu học vẫn giỏi.
- Cháu vẫn tiếp tục luyện thổi nhạc lá chứ?
- Cháu vẫn luyện. à, bác ơi, cháu còn hát nữa cơ.
- Hát thử cho bác nghe nào.
Loan dọn giọng và hát. Bài hát không lời. Từ cổ họng em ngân lên những âm điệu trầm bổng. Giọng em thật trong trẻo và có sắc thái riêng, nhưng âm điệu bài ca rất buồn, nó chất chứa bao nỗi bất hạnh của gia đình em. Hoạ sĩ cúi đàu lắng nghe, mái tóc bạc quá nửa xoã xuống che lấp những giọt lệ lặng lẽ ứa ra. Ông xoa đầu bé loan khen:
- Cháu có một giọng hát trời cho, một giọng vàng. Ôi con sơn ca bé bỏng của bác, hãy cố giữ gìn cái giọng vàng của cháu.
Ông muốn nhấc bổng em lên nhưng không đủ sức.
- Bác ơi! bác về nghỉ đi, để cháu đưa bác về.
Người ông run cầm cập, ông bảo đó là bệnh sốt rét ác tính từ thời kháng chiến lại tái phát.
Ngôi nhà của ông bây giờ trở nên trống trải. Trên vách không còn thấy các bức tranh, chỉ còn một bức vẽ giở dang trên giá vẽ.
- Bác ơi! tranh của bác đâu hết rồi?
- Bác cất bớt đi rồi. Bác cho cháu mấy cái này, có thể đem bán, mà thứ này, cháu nhìn mẫu của bác, cháu cũng kiếm được đấy. Đầy rừng.
Ông chỉ vào góc nhà có bầy gần một chục bức tượng bằng rễ cây. Tượng con nai, con sư tử, con hiêu cao cổ, tượng ông già, em bế ... Thực ra, đó chỉ là những cái rễ cây khô có dạng tự nhiên, ông nhặt ngoài rừng về chỉ sửa sang chút ít rồi đặt nằm đặt đứng theo đúng tư thế, thế là thành tượng.
- Cháu cứ tìn ở những gốc cây khô. Sau mỗi mùa lũ, Cây khô tấp đầy ở các kẹt đá ven suối. Quan trọng là phải có con mắt biết nhìn các dáng tượng, nghĩa là biết nhìn ra cái đẹp, trong cái rễ cây, cháu ạ. Mà cháu thì bác tin là cháu biết nhìn ra cái đẹp.
ốm yếu luôn nên dạo sau này họa sĩ Phan Thạch ít đi vẽ ngoài trời. Chủ nhật nào bé Loan cũng dành ra một buổi để đến giúp ông các việc lặt vặt, và ông thì dạy cho Loan cách làm tượng rễ cây.
Nhưng rồi một tai họa nữa lại giáng xuống gia đình bé Loan, bất ngờ và dữ dội hơn trước.
Sách - Truyện Khác
Nhà Vua Trẻ
Oscar Wilde
Nhà Ảo Thuật
Nguyễn nhật Ánh
Người Tốt
Nguyễn nhật Ánh
Người Gái Hầu Của Mỵ Châu
Phạm Hổ
Người Đàn Ông Che Dù
Roald Dahl
Người Bạn Nhiệt Tình
Oscar Wilde
Người Bạn Đồng Hành
Hans Christian Andersen
Ngư Ông Và Biển Cả
Ernest Hemingway
Ngôi Sao Khiêm Tốn
Võ Hồng
Ngoài Song Mưa Bay
Lý Thụy Ý
Nghĩ Về Mẹ
Võ Hồng
Ngày Xưa Có Một Ông Vua
Rabindranath Tagore
Nàng Tiên Cá
Hans Christian Andersen
Nàng Tiên Nhỏ Thành Ốc
Phạm Hổ
Nắng Nhớ Mưa Thương
Trần Tường Vi
Nàng Công Chúa Và Hạt Đậu
Hans Christian Andersen
Năm Tuần Trên Khinh Khí Cầu
Jules Verne
Năm Sài Gòn
Bùi Chí Vinh
Năm Sài Gòn ( Tập 10)
Bùi Chí Vinh
Nữ Sinh Thế Kỷ Mới
Việt Thy



