Nhạc Lá

Phần Thứ Ba V
Tác Giả: Bùi Minh Quốc
Thể Loại: Tuổi Học Trò

Loan đã biết liệt sĩ Lữ Thị Châu Uyên là ai, và vì sao họa sĩ Phan Thạch lại tới ẩn cư tại đây.

Trong cuốn vở mà ông gửi em giữ, họa sĩ đã kể lại với Loan chuyện đời mình. Loan đã thức nhiều đêm đọc lại đến thuộc lòng.

CÓ lần con hỏi ta: Liệt sĩ Lữ Thị Châu Uyên là ai?

Công việc bề bộn rồi nhiều sự đau lòng xảy ra khiến ta chưa có dịp kể cho con. Ta ghi lại đây, một ngày nào đó con sẽ đọc.

Châu Uyên là vợ ta.

Ta với nàng yêu nhau từ khi nàng là sinh viên năm thử nhất Đại học Y, ta là sinh viên năm cuối Đại học Mỹ thuật, nhưng quen nhau thì sớm hơn nữa, từ khi nàng còn là cô bé thiếu niên quàng khăn đỏ thường cùng bạn là Anh Thư đền sinh hoạt ở câu lạc bộ thiếu niên Hà Nội. Chi đoàn trường Đại học Mỹ thuật cử ta sang giúp câu lạc bộ thiếu niên phụ trách môn vẽ, nặn.

Châu Uyên và Anh Thư sinh hoạt bên nhóm sinh vật nhưng cũng thích vẽ, hay chạy qua xem ta hướng dẫn rồi cũng tham gia. Châu Uyên và Anh Thư thân nhau lắm, đi đâu cũng cặp kè có nhau, khi vào đại học cũng cùng chọn ngành y và học cùng lớp.

Ta với Châu Uyên cưới nhau được hai tháng thì ta lên đường vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam, hồi đó để giữ bí mật chỉ gọi là đi B. Sáu tháng sau, Châu Uyên tốt nghiệp cũng đi B, cả Anh Thư cùng đi đợt ấy Châu Uyên và Anh Thư công tác ở một bệnh viện dã chiến. Còn ta thời gian đầu làm công việc trang trí cho một đoàn văn công, nhưng một trận B52 ném bom trúng vị trí, đoàn hy sinh gần hết. May mắn sống sót mà chẳng có việc gì làm ở cái đoàn văn công đã teo lại thành một tổ văn nghệ xung kích. ta xin ra đơn vị chiến đấu. Trong một chiến dịch tấn công vào thành phố, ta bị thương, được đưa vào bệnh viện, lại đúng là bệnh viện của Châu Uyên. Nhờ lần bị thương ấy, cũng không đến nỗi nặng lắm, mà ta được gặp nàng sau mấy năm xa cách. Chẳng ngờ đấy lại là lần gặp cuối cùng.

Vết thương lành, ta trở về đơn vị. Dù đường liên lạc khó khăn, vợ chồng ta cũng thư từ cho nhau đều đặn. Ta mừng rỡ xiết bao khi được thư Châu Uyên cho hay chúng ta sẽ có con. Mùa hè năm sau Châu Uyên báo tin nàng đã sinh con trai. Chúng ta lấy họ của ta và họ của nàng ghép lại đặt tên con là Phan Lữ. Bẵng đi mấy tháng không được tin tức gì của mẹ con nàng nữa. Rồi một hôm ta nhận được thư Anh Thư báo cái tin sét đánh: Châu Uyên đã hy sinh nhưng không tìm được xác. Anh Thư thay Châu Uyên nuôi con cho ta, khi ấy con ta mới được bốn tháng.

Sau này, Anh Thư kể lại với ta, Châu Uyên đã hy sinh trong một trường hợp đặt biệt. Châu Uyên sinh con giữa đận nàng đang bị sốt rét, và lại thiếu ăn triền miên, vì địch đánh phá rất ác liệt, đường tiếp tế ách tắc..

Hai mẹ con nàng được đưa về một kho gạo. Cùng với một nhân viên người dân tộc K Ho, Châu Uyên trông coi kho gạo và mấy cái rẫy. ở đây được ăn no hơn một chút vì có gạo, có sắn, bắp và các thứ rau ngoài rẫy như rau lang, rau bí. Sức khỏe hai mẹ con dần dần khá hơn.

Thằng bé rất xinh trai. Hôm ấy, cô nhân viên người Kho vào một làng dân tộc gần đó có công việc, ở kho chỉ còn hai mẹ con Châu Uyên. Khoảng mười giờ sáng, Châu Uyên ra rẫy hái rau. Bé Phan Lữ ngủ trong chiếc võng cột giữa hai cái cây trước cửa kho. Châu Uyên đang hái rau ngoài rẫy thì một tốp ba chiếc máy bay trực thăng bay tới quần riết trên vùng rừng, vừa quần vừa bắn rốc két và đại liên, bắn kiểu thăm dò. Hình như chúng tìm kiếm gì đó. CÓ lúc tưởng chừng chúng phát hiện được kho gạo. Châu Uyên chạy băng qua rẫy về phía bìa rừng bên kia, ngược hướng với phía kho gạo để thu hút sự chú ý của bọn máy bay trực thăng cho chúng khỏi phát hiện ra cái kho. Một em bé người K Ho tình cờ đi rẫy lúc đó núp trong rừng đã chứng kiến về sau kể lại với Anh Thư. Một chiếc máy bay trực thăng rà thấp bắn theo Châu Uyên. Nàng ngã nhoài, bắn lại một loạt AK rồi bật dậy chạy tiếp. Rôc-két từ chiếc máy bay trực thăng phóng tới tấp. Châu Uyên không dậy nữa.. Một chiếc máy bay trực thăng hạ gần nàng. Hai tên Mỹ nhảy ra xem xét rồi xộc nách Châu Uyên kéo lên máy bay. Đôi chân Châu Uyên đỏ lòm một màu máu.

Tốp trực thăng quần thêm mấy vòng nữa rồi bốc lên cao bay đi. Lát sau, từ một chiếc máy bay trực thăng bỗng rơi xuồng một vật gì đó. Cũng trưa hôm đó, Anh Thư cùng hai nữ y tá cua bệnh viện tới kho lĩnh gạo, gặp em bé người K Ho và nghe em kể lại đầu đuôi. Mọi người cùng với tổ du kích địa phương đổ xô đi tìm xác Châu Uyên, nhưng tìm mãi đền tối cũng không thấy. Anh Thư chỉ nhặt được gần chỗ đám đất đẫm máu trên rẫy một chiếc dép cao su đen và chiếc khăn buộc tóc của Châu Uyên. Chiếc dép và khăn đều dính máu. Đêm ấy, vùng rừng mà mọi người đoán là nơi Châu Uyên bị ném từ trên máy bay trực thăng xuồng lại bị máy bay B52 dội bom suốt đêm, đất đá cây cỏ lộn nhào hết, nên việc tìm xác trở nên vô vọng.

Mãi tới ngày đất nước thống nhất ta mới được gặp con, ở Hà vội. Anh Thư và con ta đã trở về đây trước đó ít lâu. Ngày ta được gặp con cũng là ngày ta được bù đắp lại nỗi mất mát tưởng không gì bù đắp nổi trong chiến tranh. Chính Anh Thư, người bạn thân thiết nhất của Châu Uyên, người mẹ nuôi của con ta, đã bù đắp cho ta. Nàng thổ lộ với ta rằng nàng yêu ta từ thuở mới vào đại học, nhưng duyên may đã đền với Châu Uyên chứ không phải với nàng. Nay Châu Uyên đã hy sinh, nàng muốn làm vợ ta. Ta vô cùng cảm động trước tấm tình tuyệt vời của nàng nhưng lại rất áy náy. Nàng là một người con gái nhan sắc, một nữ bác sĩ giỏi đang được bao nhiêu chàng trai có địa vị theo đuổi, nàng thừa điều kiện để lấy một người chồng hơn ta mọi mặt, lẽ nào lại để nàng mắc vào hoàn cảnh đèo bòng con cái của ta. Ta phân tích mọi lẽ với nàng nhưng nàng vẫn khăng khăng giữ nguyên ý nguyện. Ta nêu ra một lý do nữa, một lý do căn bản, và tin rằng với lý do này thể nào nàng cũng phải đổi ý. Ta nói ta sẽ không bao giờ quên được Châu Uyên và rồi sự đó sẽ khiên nàng khổ sở. Nàng đáp rằng chính nàng cũng sẽ không bao giờ quên được Châu Uyên, rằng khi thấy ta không quên Châu Uyên thì nàng càng yêu càng quý ta. Nàng còn nói. trong Anh Thư có cả Châu Uyên, nêu nhớ Châu Uyên thì hãy sống với Anh Thư.

Ta đón nhận tình yêu của nàng với niềm biết ơn. Con ta đã gắn bó với nàng từ khi mới lọt lòng mẹ được bốn tháng, và nó không hề biết nó có một người mẹ ruột đã khuất. Ta với Anh Thư nhất trí cùng nhau hãy cứ để thế cho tới khi nó trưởng thành.

Cuộc đời ta như con thuyền lênh đênh tưởng đã cặp được bến bờ hạnh phúc. Nhưng không. Nỗi bất hạnh ập đến từ phía ta không ngờ nhất.

Anh Thư có thai. Hai vợ chồng ta cùng tíu tít vui mừng chuẩn bị đón đứa con đầu lòng của nàng. Hôm nàng đi sinh, ta ngồi chờ suốt đêm ngoài cửa phòng đẻ.

Đến gần sáng, người nữ y tá bước là với vẻ mặt lạnh ngắt, ta gạn hỏi mãi mới biết vợ ta sinh ra không phải một đứa con mà là một quái thai, hay đúng hơn, một đứa con-quái-thai. Anh Thư đã ngất đi khi nhìn thấy con. còn ta thì rã rời cơ hồ không đứng vững, mãi một hồi lâu mới đủ can đảm bồng nó lên. Mấy ngày sau, nó chết.

đến bận sinh thứ hai, cái tai họa khủng khiếp ấy lại lặp lại.

Ta biết nguyên nhân là ở ta. trong chiến tranh, ta nhiều phen bị những trận mưa chất độc hóa học của bọn Mỹ tưới lên mình. Máu ta nhiễm độc đi-ô-xin. Các xét nghiệm đã chỉ rõ. CÓ dấu hiệu của bệnh ung thư máu. Cái chết đã mai phục trong mình ta.

Nhân một chuyến đi vẽ xa, ta lẳng lặng rời bỏ Anh Thư và đứa con thân yêu. Ta gửi về cho nàng một bức thư nói hết sự tình, rồi từ đó cắt đứt mọi liên lạc để tạo điều kiện cho nàng sớm quên ta và lập gia đình mới.

Ta trở lại cánh rừng phía đông thành phô Núi này.

Ta dành những năm còn lại của đời ta cho rừng, những cánh rừng đầy thương tích mà ta yêu vô cùng, thương vô cùng Tất cả tình yêu thương không nói nên lời ấy ta ký thác vào những bức tranh. Ta đã cố công tìm kiếm hài cốt Châu Uyên của ta nhưng không kết quả, chỉ gặp được một chiếc dép cao su mà ta tin có thể là chiếc dép còn lại của nàng.

***

Trong cuốn vở, sau phần kể về vợ ông, nữ liệt sĩ Lữ Thị Châu Uyên, họa sĩ Phan Thạch vẽ một bản sơ đồ các ngôi mộ liệt sĩ trong vườn tượng. ông ghi chú rất tỉ mỉ các đặc điểm của những bộ hài cốt chưa rõ tên khi tìm thấy, hy vọng người ta có thể dựa vào đó mà may ra tìm được tên tuổi liệt sĩ.

Sau khi ăn trưa bằng cơm nắm muối vừng đem theo. Loan nhổ cỏ cho khu vườn tượng. CỎ nhiều quá, em làm liên tục không nghỉ, mãi tới lúc mặt trời gần gác núi đằng tây mới xong. Dồn hết cỏ vào một góc, kéo vạt áo lau mồ hôi, Loan khoan khoái ngắm khu vườn tượng đã trở lại sạch đẹp như thuở nào. Em thắp hương khắp các mộ hệt sĩ và thắp một tuần hương nữa trên mộ bác Phan Thạch, trên bia tưởng niệm liệt sĩ Lữ Thị Châu Uyên. Tự nhiên, em ngước nhìn trời, nhìn ra cánh rừng xa xa. Em nhớ hồi còn sống bác Phan Thạch cũng thường dừng bên bia tưởng niệm này mà nhìn hoài vào cõi mông lung kia. Em mường tượng như nhìn thấy cái cảnh vợ bác, bà Châu Uyên bị ném từ máy bay trực thăng trên trời cao xuống, thịt xương tan nát trong cánh rừng kia.

Loan khoác túi lên vai ra về. Lúc dợm chân bước đi, tình cờ ngoái nhìn vào trong hang, em giật mình kinh hoảng kêu lên một tiếng cắm đầu ù té chạy xuống núi.

Chạy được một quãng xa, ngoảnh lại phía sau không thấy gì, em bước thong thả lại nhưng vẫn thở dồn vì sợ.

Lội qua con suối lớn, em mới thật yên lòng.

Ra khỏi rừng, Loan chưa về nhà ngay. Em theo con đường mòn đi qua những dải đồi xưa vốn là rừng thông đã bị chặt trụi, một ít thông non mới trồng lại nhưng không được chăm sóc, cây sống cây chết loi thoi nom buồn thiu. Xuống một thung lũng lơ thơ mấy ngôi nhà gỗ nhỏ giữa vườn rau, em leo lên một vùng đồi chi chít mồ mả, đó là nghĩa trang thành phố. Nghĩa trang có hai khu, một khu là nghĩa trang cán bộ, một khu là nghĩa trang nhân dân. Khu nghĩa trang cán bộ, mồ mả rất sang trọng. Khu nghĩa trang nhân dân, mồ mả đủ loại sang hèn, có những cái xây mái dựng bia nhưng có những cái chỉ là nấm đất sè sè xập xệ.

Loan đi vào khu nghĩa trang nhân dân, nơi có mộ cha em. Khi qua đời, cha em không được coi là cán bộ nữa, chỉ là một tên tù, nên phải chôn ở đây. Đang lúi húi đi, bỗng Loan dừng lại núp sau tấm bia một ngôi mộ lớn, ghé mắt nhìn ra. Đằng trước, cách độ mấy bước chân, chỗ ngôi mộ cha em, có một người đang quỳ móp xuống lầm rầm khấn khứa. Gió bay lại cho em nghe được tiếng người ấy khấn: "Tôi mắc tội lớn với Người, xin Người tha thứ cho tôi, tôi bị họ buộc phải hại người, chỉ vì miếng cơm manh áo mà tôi mắc vòng tội ác Tôi đang tự trừng phạt mình, xin oan hồn hãy buông tha tôi...". Em nghe rất rõ những lời khấn lạ lùng. Em còn đương nghĩ ngợi phân vân thì người kia đã dừng dậy bước ra khỏi nghĩa trang. Mặt trời đã lặn từ hồi nào, mây đen vần vụ. Em không thể nhìn rõ mặt ông ta trong bóng chiều nhập nhoạng, chỉ thấy được cái dáng người gầy nhẳng và dáng đi xiêu vẹo. Loan thắp hương trên mộ cha rồi về nhà kể lại ngay với mẹ sự việc khó hiểu vừa gặp. Nghe xong, mẹ em ngẫm nghĩ, đoạn bà hỏi:

- Con nhắc lại cho mẹ lần nữa, lời người ấy khấn thế nào?

Loan nhắc lại không sót một chữ, vì em đã chú ý nghe và thuộc luôn.

Bà Phượng nói, khẽ khàng như tự nói với mình:

- Rồi dần dần sự thật cũng sẽ phơi ra hết...

Đến đêm, trước khi đi ngủ, bà gọi Loan lại bảo:

- Loan con, con sắp thành người lớn rồi, mẹ cần nói để con biết về nỗi oan ức và cái chết tức tưởi cửa ba.

Hồi ấy ba bị bắt oan. CÓ những người có thế lực cố tình vu oan cho ba con để che giấu tội lỗi của họ, vì ba biết rõ những tội lỗi ấy. Người ta bảo với mẹ rằng ba tự tử chết trong tù nhưng mẹ không tin. Mẹ cho rằng ba bị giết. Theo mẹ, thì cái người chiều nay con thấy quỳ khấn trước mộ ba chính là người đã thực hiện tội ác đó theo một cái lệnh từ đâu đó. Lời khấn của người ấy trước mộ ba đã bộc lộ một sự thực bấy lâu bị bưng bít. Nhưng con ạ, ở đời, con người ta không ai bưng bít được điều gì với chính lương tâm mình. Hẳn là bao năm qua người ấy bị lương tâm cắn rứt ghê lắm nên đã đến trước mộ ba mà xin tha tội.

HỌ giết cả mẹ nữa đấy nhưng mạng mẹ còn lớn, mẹ đã không chết, trí nhớ mẹ nay đã khôi phục được nguyên vẹn. Mẹ nhớ rằng không phải tự nhiên mẹ ngã xuống vực, chính hai tên đi mô tô xẹt qua rất Sát đã đạp mẹ ngã. Một mặt giết mẹ, một mặt họ cho người đến lục tung nhà cửa để cướp tài liệu. Nhưng họ không tìm thấy mà cướp. Con còn nhớ cái cuộn giấy bọc ni lông dạo ấy mẹ bảo con đem đi giấu chỗ hốc đá dưới cây si gần mộ bốn liệt sĩ cùng đơn vị với ba không?

- Dạ nhớ.

- Cuộn giấy đó là những chứng từ kế toán cho thấy tội phá rừng làm giàu của họ. Sáng mai con đi lấy về cho mẹ nhé.

Vâng, sáng mai con sẽ đi thật sớm.

Loan đi nằm nhưng không sao ngủ được, tuy em đang tuổi ăn tuổi ngủ. Những điều mẹ em vừa nói đã xóa tan cái đám mây đen kết bằng những lời đồn đại độc địa mà thiên hạ vẫn lan truyền về cha em. Lòng bồn chồn khó tả, Loan trở dậy lách cửa bước ra thềm.

Trăng rất sáng. Trời lạnh buốt. Em quay vào nhà mặc thêm áo ấm. Mẹ vẫn chưa ngủ. Bà hỏi:

- Con đi đâu đấy?

- Con đi dạo và tập thổi nhạc lá một lát thôi ạ.

Loan vừa dạo quanh sân vừa thổi nhạc lá. Lát sau, đoán chừng mẹ đã ngủ, em mở cổng ra đi. Em chạy như bay qua các dải đồi, sau cùng, em tới chỗ bốn ngôi mộ liệt sĩ trên sườn núi. Em trèo lên chỗ cây si. NÓ vẫn đứng đó, có vẻ cao lên nhiều. Cái hốc đá dưới gốc vẫn thế Cuộn giấy bọc ny lông còn nguyên. Em mừng hú, đút cuộn giấy vào bụng áo rồi chạy ù về nhà.

Khi bước qua cổng, vừa toan kéo cánh cổng gỗ đóng lại thì Loan đột ngột rú lên lùi thụt dần về phía sau.

Một con rắn rất to nửa đen nửa xám không biết từ đâu xuất hiện đang bò vào sân. Chính là con rắn em đã gặp trong hang vào lúc chiều đã làm em sợ hết hồn khi tình cờ ngoái lại nhìn thấy nó nằm dưới chân pho tượng Phật.

Con rắn bò vào nằm khoanh giữa sân.

Loan lùi tới bậc thềm rồi thoắt quay mình nhảy tót vào nhà đóng chặt cửa, trống ngực đập dồn. Em không biết rằng con rắn đã theo em từ hang về và không lúc nào rời em nửa bước. Em cũng chưa biết rằng từ nay nó sẽ gắn bó mãi mãi với em.

Cỡ chữ: 18
Màu nền:

Sách - Truyện Khác

Tuyển Chọn Truyện Kiếm Hiệp Tuyển Chọn Truyện Trinh Thám