Lục Vân Tiên

Câu 1800 - 2080
Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu
Thể Loại: Cổ Văn Việt Nam

Trời đà tối mịt, lạc chừng gần xa

Một mình lạc nẻo, vào ra

Lần theo đàng núi, phút đà tam canh

Một mình trong chốn non xanh

Biết ai mà hỏi lộ trình trở ra

Ðoạn này tới thứ Nguyệt Nga

Ở đây tính đã hơn ba năm rồi

Ðêm khuya chong ngọn đèn ngồi

Chẳng hay trong dạ bồi hồi việc chi

Quan âm thuở trước nói chi

Éo le phỉnh thiếp lòng ghi nhớ hoài

Ðã đành đá nát vàng phai

Cũng nguyẳn xuống chốn dạ đài gặp nhau

Khôn trông mồng bảy đêm thâu

Khôn trông bầy quạ đội cầu đưa sao

Phải chi hỏi đặng Nam Tào

Ðêm nay cho đến đêm nào gặp nhau

Nguyệt Nga gượng giãi cơn sầu

Xảy nghe nhạc ngựa ở đâu tới nhà

Kêu rằng: Ai ở trong nhà?

Ðường về quan ải chỉ ra cho cùng

Nguyệt Nga ngồi sợ hãi hùng

Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào

Lão bà lật đật hỏi chào

Ở đâu mà tới rừng cao một mình?

Vân Tiên mới nói sự tình

Tôi là quốc trạng triều đình sai ra

Ðem binh dẹp giặc Ô-qua

Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây

Lão bà nghe nói sợ thay

Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già

Vân Tiên ngồi ngắm Nguyệt Nga

Lại xem bức tượng lòng đà sinh nghi

Hỏi rằng: Bức ấy tượng chi

Khen ai vẽ dung nghi giống mình

Ðầu đuôi chưa rõ sự tình

Lão bà khá nói tính danh cho tường

Lão bà chẳng dám lời gian

Tượng này vốn thiệt chồng nàng ngồi đây

Tiên rằng: Nàng xách lại đây

Nói trong tên họ tượng này ta nghe

Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè

Mặt thời giống mặt, còn e lạ người

Ngồi che tay áo hổ ngươi

Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi

Rằng: Sao nàng chẳng nói đi

Hay là ta hỏi động chi chăng là

Nguyệt Nga khép nép thưa qua:

Người trong bức tượng tên là Vân Tiên

Chàng đà về chốn cửu tuyền

Thiếp làm trọn đạo, lánh miền gió trăng

Vân Tiên nghe nói hỏi phăn

Chồng là tên ấy, vợ rằng tên chi?

Nàng bàn tỏ thiệt một khi

Vân Tiên vội vã xuống quì vòng tay:

Thưa rằng: Nay gặp nàng đây

Xin đền ba lạy, sẽ bày nguồn cơn

Ðể lời thệ hải minh sơn

Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi

Vân Tiên vốn thiệt là tôi

Gặp nhau nay đã phỉ rồi ước mơ

Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ

Nửa tin rằng bạn, nửa ngờ rằng ai

Thưa rằng: Ðã thiệt là ngài

Khúc nôi xin cứ đầu bài quân ra

Vân Tiên dẫn tích xưa ra

Nguyệt Nga khi ấy khóc òa như mưa

Ân tình càng kể càng ưa

Mảng còn bịn rịn trời vừa sáng ngay

Xảy nghe quân ó vang vầy

Bốn bề rừng bụi khắp bày can qua

Vân Tiên lên ngựa trở ra

Thấy cờ đề chữ hiệu là Hớn Minh

Hớn Minh khi ấy dừng binh

Anh em mừng rỡ tỏ tình cùng nhau

Minh rằng: Tẩu tẩu ở đâu

Cho em ra mắt chị dâu thế nào

Vân Tiên đem Hớn Minh vào

Nguyệt Nga đứng dậy miệng chào có duyên

Minh rằng: Tưởng chị ở Phiên

Quyết đem binh mã sang miền Ô-qua

Mừng rày sum họp một nhà

Giặc đà an giặc, khải ca hồi trào

Tiên rằng: Nàng tính thế nào?

Nàng rằng: Anh hãy về trào tâu lên

Ngỏ nhờ lượng cả bề trên

Lệnh tha tội trước mới nên về nhà

Trạng nguyên từ giã lão bà

Dặn dò gửi lại Nguyệt Nga ít ngày

Tôi về đem bức tượng này

Tâu cho khỏi tội, rước ngay về nhà

Tiên, Minh lên ngựa trở ra

Ðem binh trở lại trào ca đề huề

Sở vương nghe trạng nguyên về

Sai quân tiếp rước vào kề bên ngai

Sở vương bước xuống kim giai

Tay bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên

Phán rằng: Trẫm sợ nước Phiên

Có người Cố Ðột phép tiên lạ lùng

Nay đà trừ Cốt Ðột xong

Thật trời sinh trạng giúp trong nước nhà

Phải chi sớm có trạng ra

Làm chi nên nỗi Nguyệt Nga cống Hồ

Lệnh truyền mở yến trà đô

Rày mừng trừ đặng giặc Ô-qua rồi

Trạng nguyên quỳ tấu trước ngôi

Nguyệt Nga các việc khúc nôi rõ ràng

Sở vương nghe tấu ngỡ ngàng

Phán rằng: Trẫm tưởng rằng nàng ở Phiên

Chẳng ngờ nàng với trạng nguyên

Cùng nhau trước có nhân duyên thuở đầu

Thái sư trước bệ quỳ tâu

Ô-qua dấy động qua mâu cũng vì

Trá hôn oán ấy gây nên

Nguyệt Nga nàng thiệt tội thì khi quân

Trạng Nguyên mặt đỏ phừng phừng

Bèn đem bức tượng quỳ dưng làm bằng

Sở vương xem tượng phán rằng:

Nguyệt Nga trinh tiết ví bằng người xưa

Thái sư trước chẳng lo lừa

Thiếu chưa dân thứ phải đưa tới nàng

Dầu cho nhật nguyệt rõ ràng

Khôn soi chậu úp cũng mang tiếng đời

Ngay gian sao cũng có trời

Việc này vì trẫm nghe lời nên oan

Trạng nguyên tâu trước trào đàng

Thái sư trữ dưỡng tôi gian trong nhà

Trịnh Hâm là kẻ gian tà

Hại tôi buổi trước cũng đà ghe phen

Sở vương phán trước bệ tiền

Những ngờ tướng ngỏ tôi hiền mà thôi

Vậy cũng đạo chúa nghĩa tôi

Thái sư muốn cướp ngôi chín trùng

Hán xưa có gã Ðổng công

Nuôi dòng Lã Bố cướp dòng nhà Lưu

Ðời xưa tôi nịnh biết bao

Thái sư nay cũng khác nào đời xưa

Thấy người trung chính chẳng ưa

Rắp ranh kế độc, lập lừa mưu sâu

Trịnh Hâm tội đáng chém đầu

Ấy là mới hết người sau gian tà

Sở vương phán trước trào ca

Thái sư cách chức về nhà làm dân

Trịnh Hâm là đứa bạo thần

Giao cho quốc trạng xử phân pháp hình

Nguyệt Nga là gái tiết trinh

Sắc phong quận chúa hiển vinh rỡ ràng

Kiều công xưa mắc tội oan

Trẫm cho phục chức làm quan Ðông-thành

Trạng nguyên dẹp giặc đã bình

Kiểu vàng tán bạc hiển vinh về nhà

Bãi chầu chư tướng trở ra

Trạng nguyên mời hết đều qua dinh ngồi

Họ Vương, họ Hớn, họ Bùi

Cùng nhau uống rượu đều vui, đều cười

Trạng nguyên mới hỏi một lời

Trịnh Hâm tội ấy các người tính sao

Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào

Mặt nhìn khắp hết, miệng chào các anh

Minh rằng: Ai mượn kêu anh

Trước đà đem thói chẳng lành thời thôi

Kéo ra chém quách cho rồi

Ðể chi gai mắt, đứng ngồi căm gan

Trực rằng: Minh nóng nói ngang

Giết ruồi đâu xứng gươm vàng làm chi

Xưa nay mấy đứa vô nghì

Dẫu cho có sống làm gì nên thân

Hâm rằng: Nhờ lượng cố nhân

Vốn tôi mới dại một lần xin dung

Trạng rằng: Hễ đấng anh hùng

Nào ai có giết đứa cùng làm chi

Thôi thôi ta cũng rộng suy

Truyền quân mở trói đuổi đi cho rồi

Hâm mừng khỏi thác rất vui

Vội vàng cúi lạy chân lui ra về

Còn ngươi Bùi Kiệm máu dê

Ngồi chề bề mặt như sề thịt trâu

Hớn Minh, Tử Trực vào tâu

Xin đưa Quốc trạng kịp chầu vinh qui

Một ngươi Bùi Kiệm chẳng đi

Trong lòng hổ thẹn cũng vì máu dê

Trạng nguyên xe giá chỉnh tề

Sai quân hộ vệ rước về Nguyệt Nga

Bạc vàng đem tạ lão bà

Nguyệt Nga từ tạ thẳng qua Ðông-thành

Võng điều, gươm bạc, lọng xanh

Trạng nguyên, Tử Trực, Hớn Minh lên đàng

Trịnh Hâm về tới Hàn Giang

Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay.

Trịnh Hâm bị cá nuốt vây

Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng

Thấy vầy nên dửng dừng dưng

Làm người ai, nấy thì đừng bất nhân

Tiểu đồng trước giữ mộ phần

Ngày qua tháng lại đã gần ba năm

Của đi khuyến giáo mấy năm

Tính đem hài cốt về thăm quê nhà

Hiềm chưa thuê đặng người ta

Còn đương thơ thẩn vào ra Ðại Ðề

Trạng nguyên khi ấy đi về

Truyền quân bày tiệc lo bề tế riêng

Tiểu đồng hồn bậu có thiêng

Thỏa tình thày tớ lòng thiềng ngày nay

Ðọc văn nhớ tới chau mày

Ðôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng

Người ngay trời phật động lòng

Phút đâu ngó thấy tiểu đồng đến coi

Trạng nguyên còn hãy sụt sùi

Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền

Tiểu đồng nhắm ngửa, nhìn nghiêng

Ông này sao giống Vân Tiên cũng kỳ

Ông nào mất xuống âm ty

Ông nào còn sống nay thì làm quan?

Trạng nguyên khi ấy hỏi chàng

Phải người đồng tử mắc nàn chốn ni

Mấy năm tớ mới gặp thầy

Cúng nhau kể nỗi đắng cay từ ngằn

Ai dà còn thấy bổn quan

Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi

Trạng nguyên khi ấy mừng vui

Tớ thầy sum họp tại nơi Ðại Ðề

Ðoạn thôi xe giở ra về

Tuần du phút đã gần kề Hàn Giang

Võ công từ xuống suối vàng

Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang đeo sầu

Mẹ con những mảng lo âu

Nghe Vân Tiên sống gặp chầu công danh

Cùng ta xưa có ân tình

Phải ra đón rước lộ trình họa may

Loan rằng: Mình ở chẳng hay

E ngưòi còn nhớ những ngày trong hanh

Trang rằng: Con có hồng nhan

Cho chàng thấy mặt thời chàng ắt ưa

Ví dầu còn nhớ tích xưa

Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công

Cùng nhau bàn luận đã xong

Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên

Nay đà tới thứ Trạng nguyên

Hàn giang đã tới, bỗng liền đóng quân

Bạc vàng châu báu áo quần

Trạng nguyên đem tạ đáp ân ngư tiều

Ngư tiều nay đặng danh biêu

Ơn ra một buổi của nhiều trăm xe

Trạng nguyên chưa kịp trở về

Thấy Quỳnh Trang đã đừng kề trong quân

Trang rằng: Tưởng chữ hôn nhân

Mẹ con tôi đến lễ mừng Trạng nguyên

Võ công đã xuống huỳnh tuyền

Xin thương lấy chút thuyền quyên phận này

Trạng rằng: Bưng nước bát đầy

Ðổ ngay xuống đất hớt rày sao xong

Oan gia nợ ấy trả xong

Thiếu chi nên nỗi mà mong tới đòi

Hớn Minh, Tử Trực đứng coi

Cười rằng: Hoa khéo làm mồi trêu ong

Khen cho lòng chẳng thẹn lòng

Còn mang mặt đến đèo bòng nỗi chi

Ca ca sao chẳng chịu đi

Về cho tẩu tẩu để khi xách giày

Mẹ con đương thẹn thùng thay

Vội vàng cúi lạy chân quày bước ra

Trở về chưa kịp tới nhà

Thấy hai ông cọp chạy ra đón đường

Thảy đều bắt mẹ con nàng

Ðem vào lại bỏ trong hang Thương-tòng

Bốn bề đá lấp bịt bùng

Mẹ con than khóc khôn trông ra rồi

Trời kia quả báo mấy hồi

Tiếc công trang điểm phấn giồi bấy lâu

Làm người cho biết ngãi sâu

Gặp cơn hoạn nạn cùng nhau cho tròn

Ðừng đừng theo thói mẹ con

Thác đà mất kiếp, tiếng còn bia danh

Trạng nguyên về tới Ðông-thành

Lục ông trước đã xây dinh đầu làng

Bày ra sáu lễ sẵn sàng

Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga

Sui gia đã xứng xui gia

Rày mừng hai họ một nhà thành thân

Trăm năm biết mấy tinh thần

Sinh con sau nối gót lân đời đời

Hết

Chú thích:

1.Phản hồi bổn quân: trở về toán quân của mình

2.Dạ đài: lâu đài đêm, đêm có nghĩa là tối tăm, chỉ nơi tối tăm của người chết. "Dạ đài" cũng như "tuyền đài" (đài suối vàng, tức là lâu đài dưới đất), nghĩa chính là "cái mả", mà nghĩa bóng là nói cõi âm, cõi chết.

3.Mồng bảy đêm thâu (thu): đêm mồng bảy tháng bảy mùa thu. Bầy quạ đội cầu đưa sao: sao chỉ hai sao Khiên ngưu và Chức nữ. (Xem chú thích ở các câu 245, 246 và 1248). Nguyệt Nga nói, mình với Vân Tiên, khôn mong gặp nhau như Chức nữ gặp Ngư 1248).

4.Nam Tào: theo thần thoại. Nam Tào và Bắc Ðẩu là hai vị thần giữ sổ sinh tử của trần gian.

5.Dung nghi: dáng điệu

6.Tính danh: họ tên

7.Kiêng dè: dè dặt, thận trọng

8.Gió trăng: chỉ thói dâm tà xấu xa

9.Phăn: lần (phăn mối chỉ). Hỏi phăn: hỏi lần cho biết

10.Thệ hải minh sơn: thề bể hẹn non, tức là chỉ bể chỉ núi mà thề: lời nói của mình bền vững như núi như bể.

11.Khúc nôi: hay khúc nhôi, những chi tiết của sự việc, lai lịch khúc chiết. Ðầu bài: như nói câu chuyện. nói câu chuyện lai lịch thế nào, xin bàytỏ cho biết .

12.Quân ó vang vầy: quân thét vang lừng.

13.Can qua: mộc và mác, đồ binh khí. nói: quân gia kéo đến chung quanh rừng, la liệt những binh khí.

14.Tẩu tẩu: chị dâu, dùng theo tiếng bạch thoại Trung Quốc. Ðây Hớn Minh coi Nguyệt Nga như chị dâu, nên xưng hô như thế. (Xem chú thích ở câu 1229)

15.Khải ca hồi trào: hát khúc ca thắng trận trở về triều.

16.Trào ca: triều đình, triều ban.

17.Ðề huề: dắt tay nhau cùng đi. Nghĩa bóng là thân thiện mà dìu dắt nhau.

18.Kim giai: thềm vàng

19.Trà đô: nơi đô thị có triều đình.

20.Qua mâu: giáo mác. Dấy động qua mâu: dấy binh xâm phạm

21.Khi quân: dối vua, lừa vua. Tội khi quân là tội to thời xưa

22.Dân thứ: cũng như dân chúng. nói: thiếu gì con gái nhân dân mà lại phải dùng đến nàng.

23.Chậu úp: do chữ Hán "phú bồn", sách Bảo phác tử có câu "Tam quan bất chiếu phú bồn chi nội" , nghĩa là ánh tam quang (mặt trời, mặt trăng và các vì sao) không soi vào được trong lòng cái chậu úp. Người ta thường nói: "Phú bồn chi oan": cái oan chậu úp, là chỉ sự oan ức không giải bày được. nói hai câu này: dù sáng suốt như mặt trời mặt trăng mà không xét đến nỗi oan tối tăm thì cũng mang tiếng xấu với đời .

24.Trữ dưỡng: chứa chấp và nuôi nấng.

25.Ghe phen: (tiếng miền Nam) nhiều phen, có phen.

26.Tướng ngỏ: ngỏ có nghĩa là trung, giải bày cả tấm lòng thành thực với vua.

27.Chín trùng: do chữ "cửu trùng": chín trùng cửa. Sở-từ có câu: Quân chi môn dĩ cửu trùng", nghĩa là cửa nhà vua những chín trùng, nói vua ở một nơi sâu thẳm. Nhân thế người ta gọi nơi vua ở hay bản thân vua là "cửu trùng" . Ðây nói: thái sư muốn cướp ngôi vua.

28.Ðổng công: Ðổng Trác. (Xem chú thích ở câu 1251)

29.Nhà Lưu: nhà họ Lưu, tức nhà Hán.

30.Bạo thần: kẻ bày tôi tàn ác

31.Xử phân pháp hình: Theo hình phép nhà nước mà trị tội.

32.Giết ruồi đâu xứng gươm vàng: nói người quân tử không thàm giết kẻ tiểu nhân, cũng như gươm vàng không đáng đem mà giết ruồi cho bẩn gươm. Câu này do câu ca dao: "Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi".

33.Vô nghì: phi nghĩa, bạc ác.

34.Dung: tha cho

35.Chề bề: một từ ngữ hình dung cái bộ mặt ê chệ khi bị nhơ nhuốc.

36.Sề: một thứ rổ, đan bằng tre nứa, dùng đựng đồ vật. Sề thịt trâu: nói như cái rổ thịt trâu trông nhầy nhụa ê chệ .

37.Vinh qui: vẻ vang trở về. Thời xưa, những người thi đỗ tiến sĩ, được vua ban mũ áo, cờ biển cho vẻ vang mà trở về, và được nhân dân tổ chức cuộc đón rước long trọng. Kịp chầu vinh qui: kịp thời (buổi, lúc) vinh qui. Trước đây Vân Tiên thi đỗ xong, chưa được vinh qui, phải đi đánh giặc ngay, nên nay mới xin vua cho kịp thời trở về.

38.Rước về Nguyệt Nga: tức là rước Nguyệt Nga về. Câu này cũng như câu: "Vợ Tiên là chị Trực" ở phần trên, đảo ngữ gò ép để cho có vần.

39.Báo ứng: giả lại xứng đáng những việc mình làm. Theo thuyết nhà Phật: làm điều thiện thì gặp thiện, làm điều ác thì gặp ác, đó là lẽ báo ứng. Rất ưng: rất phải, rất đúng.

40.Mộ phần: mồ mã, cũng như phần một.

41.Hài cốt: xương người chết. Tiểu đồng đi khuyên giáo được một số tiền, định thuê người đưa hài cốt chủ (người chết mà tiểu đồng nhận nhầm là Vân Tiên) về chôn ở quê nhà.

42.Thiềng: do tiắng "thành" đọc chệch.

43.Bài vị: mảnh gỗ hay giấy có đề tên tuổi người chết để thờ cúng.

44.Từ ngằn: từ độ ấy đến nay.

45.Bổn quan: bản quan, cũng như bản chức, tiếng tự xưng hô của người làm quan thời trước. ở đây là tiếng của tiểu đồng xưng Vân Tiên.

46.Tuần du: đi chơi để xem xét. Chữ "tuần" nguyên trước chỉ nghĩa là đi mà xem xét, như nói "tuần du" "tuần thú" (sự đi xem xét các nước chư hầu của thiên tử thời xưa), sau lại dùng thêm nghĩa: đi qua lại mà xem xét, như nói "tuần tiễu" (về quân sự), "tuần cảnh" (về cảnh sát).

47.Hồng nhan: sắc đẹp.

48.Ðổ thừa Võ công: đổ cả việc hãm hại Vân Tiên cho Võ công.

49.Ra phòng rước duyên: phòng là chờ, hòng, nói Thể Loan trang điểm xong, ra nơi lộ trình của Vân Tiên để hòng đón rước mối duyên.

50.Biêu: do chữ "tiêu" là nêu đọc chệch đi. Có bản chép là "bêu", cũng do chữ "tiêu" mà ra, nhưng tác giả dùng tiếng miền Nam với nghĩa tốt của nó (nêu), chứ không dùng theo nghĩa xấu (bày ra một cách nhơ nhuốc) ở miền Bắc, như nói: bêu đầu, bêu xấu, bán bêu.

51.Huỳnh tuyền: hoàng tuyền (xem chú thích ở câu 1206)

52.Bưng bát nước đầy, Ðổ ngay...: nói tình duyên đã dứt, không thể nối lại, cũng như bát nước đã đổ xuống đất, không thể hốt lại đầy được nữa. Dùng tích vợ Chu Mãi Thần (xem chú thích ở câu 416) .

53.Oan gia: xem chú thích ở câu 1069. Vân Tiên cho việc mình bị nhà Võ công hãm hại là cái nợ oan gia, nên bảo rằng: oan gia nợ ấy tôi đã giả xong rồi, sao lại còn tới đòi hỏi?

54.Ca ca: anh (chữ này ta thường đọc là kha, nhưng chính âm là ca). Chịu đi: ưng thuận đi.

55.Tẩu tẩu: chỉ Nguyệt Nga. Hớn Minh và Tử Trực bảo Vân Tiên sao không ưng thuận, cho Thạ Loan về để xách giày cho Nguyệt Nga.

56.Thương-tòng: cái hang mà Võ công đã bỏ Vân Tiên trước đây

57.Quả báo: tiếng nhà Phật, chỉ cái kết quả đền lại, giả lại nhưng việc mình đã làm (nói chung cả việc thiện lẫn việc ác)

58.Xấu còn bia danh: tiếng xấu còn lưu lại như tạc bia, để cho người đời chê cười mỉa mai

59.Sáu lễ: sáu lễ trong việc cưới xin thời xưa, tức: nạp thái (đưa lễ kén chọn), vấn danh (hỏi tên tuổi), nạp cát (đưa điềm tốt), nạp trương (đưa sính lễ), thỉnh kỳ (xin ngày cưới), thân nghinh (đón dâu).

60.Gót lân: do chữ Hán "lân chi" là chân con kỳ lân, một loài thú tượng trưng cho đức tính nhân hậu (người xưa bảo con kỳ lân không dẫm chân lên các sinh vật bé nhỏ và làn cỏ xanh tươi). Thơ "Lân chi" ở Kinh thi khen ngơi con cháu và họ hàng của Văn vương (vua tổ nhà Chu) là nhưng người sang cả mà có đức tốt, nhân lấy con lân ví với cha mẹ (Văn vương) và chân của nó ví với con cái. Do đó, người ta gọi người con hiền, con quí là "lân chi". Ðây nói Vân Tiên lại sinh được con hay, lập nên công danh, nối dõi nghiệp cha lâu dài.

Cỡ chữ: 18
Màu nền:

Sách - Truyện Khác

Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Ngô gia văn phái

Hoa-Tiên Truyện

Hoa-Tiên Truyện

Nguyễn Huy Tự

Hịch Đánh Trịnh

Hịch Đánh Trịnh

Nguyễn Hữu Chỉnh

Hịch Tướng Sĩ

Hịch Tướng Sĩ

Trần Quốc Tuấn

Hạnh Thục Ca

Hạnh Thục Ca

Nguyễn nhược Thị

Huế Và Thơ

Huế Và Thơ

Thiên Nhất Phương

Gia Huấn Ca

Gia Huấn Ca

Nguyễn Trãi

Dương Từ Hà Mậu

Dương Từ Hà Mậu

Nguyễn Đình Chiểu

Điển Hay Tích Lạ

Điển Hay Tích Lạ

Nguyễn Tử Quang

Cung Oán Ngâm Khúc

Cung Oán Ngâm Khúc

Ôn-như Hầu Nguyễn gia Thiều

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Đặng Trần Côn

Chinh Phụ Ngâm

Chinh Phụ Ngâm

Đặng Trần Côn

Chí Linh Sơn Phú

Chí Linh Sơn Phú

Nguyễn Trãi

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Trần Nhân Tông

Bình Ngô Đại Cáo

Bình Ngô Đại Cáo

Nguyễn Trãi

Bạch Đằng Giang Phú

Bạch Đằng Giang Phú

Trương Hán Siêu

Tuyển Chọn Truyện Kiếm Hiệp Tuyển Chọn Truyện Trinh Thám