Lục Vân Tiên

Câu 1000 - 1199.
Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu
Thể Loại: Cổ Văn Việt Nam

Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu

Ðã ba thứ tóc trên đầu

Gẫm trong sự thể thêm âu cho đời

Vân Tiên thưa đã hết lời

Ngư ông chẳng đã tách rời đưa sang

Dắt Tiên vào trước tiền đàng

Vũ công xem thấy lòng càng hổ ngươi

Chẳng qua sợ thế gian cười

Một lòng gượng gạo chào người ngày xưa

Ngư ông đã có công đưa

Tới ngày sau sẽ lo lừa đền ơn

Ngư rằng lòng lão chẳng sờn

Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng

Nhớ xưa trong núi Lư san

Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ viên

Tới sau đình trưởng đỗ thuyền

Giúp ngươi Hạng Võ qua miền Ô-giang

Xưa còn thương kẻ mắc nàn

Huống nay ai đã quên đàng ngãi nhân

Một lời gắng giúp keo sơn

Ngư ông từ giã lui chân xuống thuyền

Võ công không ngớt lòng phiền

Ân tình, thế lợi khó tuyền đặng vay

Dạy Tiên: Ngươi hãy ngồi đây

Cho ta trở lại sau này lo toan

Công rằng: Hỡi mụ Quỳnh Trang

Dò lòng ái nữ Thể Loan thế nào

Mặc bay toan liệu làm sao

Vốn không ép vợ, nỡ nào ép con

Loan rằng: Gót đỏ như son

Xưa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn

Ai cho sen muống một bồn

Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê

Thà không trót chịu một bề

Nỡ đem mình ngọc dựa kề thất phu

Dốc lòng chờ đợi danh nhu

Rễ đâu có rễ đui mù thể nay

Ðã nghe người nói hội này

Rằng Vương Tử Trực đậu rày thủ khoa

Ta dầu muốn kết sui gia

Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh

Công rằng: Muốn trọn việc mình

Phải toan một chước dứt tình mới xong

Nghe rằng trong núi Thương tòng

Có hang thăm thẳm bịt bùng khôn ra

Ðông thành ngàn dặm còn xa

Ðem chàng bỏ đó ai mà biết đâu

Phút vừa trăng đã đứng đầu

Vân Tiên ngồi trước nhà cầu thở than

Võ công ra đó dỗ chàng

Xuống thuyền rồi sẽ đưa sang Ðông thành

Ra đi đương lúc tam canh

Dắt vào hang tối bỏ đành Vân Tiên

Bỏ rồi rón rén bước liền

Xuồng gay chèo quế dời thuyền tách xa

Tiên rằng: Các chú đưa ta

Xin đưa cho tới quê nhà sẽ hay

Ghi lòng dốc trọn thảo ngay

Một phen mà khỏi, ngàn ngày chẳng quên

Lặng nghe văng vẳng hai bên

Tay lần hang tối đá trên chập chờn

Vân Tiên khi ấy hãi hùng

Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình

Nực cười con tạo trớ trinh

Chữ duyên tráo chác, chữ tình lãng xao

Nghĩ mình tai nạn xiết bao

Mới lên khỏi biển, lại vào trong hang

Dây sầu ai khéo vương mang

Tránh nơi lưới thỏ gặp đàng bẫy cheo

Trong hang sau trước quạnh hiu

Muốn ra cho khỏi ai dìu dắt đi

Oan gia nợ đã khéo gây

Ôi thôi thân thể còn gì mà toan

Ðã đành xa cõi nhân gian

Dựa mình vào chồn thạch bàn nằm co

Ðêm khuya ngọn gió thổi lò

Sương sa lác đác, mưa tro lạnh lùng

Năm ngày nhịn đói khát ròng

Nhờ ba hườn thuốc đỡ lòng hôm mai

Du thần xem thấy ai hoài

Xét trong mình gã có bài phù tiên

Mới hay là LụcVân Tiên

Cùng nhau dìu dắt đều liền đem ra

Khỏi hang một dặm vừa xa

Ðến nơi đại lộc trời đà hửng đông

Du thần trở lại sơn trung

Vân Tiên còn hãy giấc nồng mê man

Lão tiều cơm gói sẵn sàng

Sớm mai sách búa đi ngang qua rừng

Tới đường đại lộc là chừng

Xẩy nghe có tiếng trong rừng thở than

Hay là yêu quái tà gian

Rung cây nhát lão làm đường hại nhân

Lão tiều liền bước lại gần

Thiệt là một gã văn nhân mắc nàn

Chi bằng lên tiếng hỏi han

Nhân sao mắc việc tai nàn thế nay?

Vân Tiên nghe tiếng mừng thay

Vội vàng gượng dậy trình bày trước sau

Lão tiều nghe nói giờ lâu

Gẫm trong thế sự lắc đầu thở than

ít người trong tuyết đưa than

Khó ngồi giữa chợ, ai màng đoái thương

Vân Tiên nghe nói mới tường

Cũng trang ẩn dật biết đường thảo ngay

Ngửa trông lượng cả cao dày

Cứu trong một thuở ơn đầy tái sinh

Mai sau về tới Ðông thành

Ðền ơn cứu khổ mới đành dạ tôi

Lão tiều mới nói thôi thôi

Làm ơn mà lại trông hồi sao hay

Già hay thương kẻ thảo ngay

Này thôi để lão dắt nay về nhà

Tiên rằng: Trong dạ xót xa

Nay đà sáu bữa không hòa mùi chi

Lại thêm rũ liệt tứ chi

Muốn đi theo đó mà đi khôn rồi

Lão tiều này ngỡ nực cười

Mở cơm trong gói miệng mời Vân Tiên

Gắng mà ăn uống cho yên

Lão ra sức lão cõng Tiên về nhà

Khỏi ra rừng tới ngã ba

May đâu gặp một chàng là Hớn Minh

Lão tiều lật đật bôn trình

Hớn Minh theo hỏi sự tình một khi

Vân Tiên nghe nói cố tri

Vội mừng bạn cũ còn nghi nỗi mình

Minh rằng: Dám hỏi nhân huynh

Cớ sao nên nỗi thân hình thế ni?

Tiên rằng: Chẳng xiết nói chi

Thân này nào có khác gì cây trôi

Lênh đênh gió dập sóng giồi

Rồi đây mai đó, khôn rồi gian nan

Minh rằng: Ðây khó hỏi han

Xin vào chùa sẽ luận bàn cùng nhau

Tiều rằng: Chẳng dám ngồi lâu

Vào rừng đốn củi bán chầu chợ phiên

Hớn Minh quỳ gối lạy liều

Ơn ông cứu đặng Vân Tiên bạn lành

Nay hai lạng bạc trong mình

Tôi xin báo đáp chút tình cho ông

Tiều rằng: Lão vốn tay không

Một mình ngẩn ngơ non tòng hôm mai

Tấm lòng chẳng muốn của ai

Lánh nơi danh lợi chông gai cực lòng

Kìa non nọ nước thong dong

Trăng thanh gió mát, bạn cùng hươu nai

Công hầu phú quí mặc ai

Lộc rừng gánh vác hai vai tháng ngày

Vân Tiên nghe biết người ngay

Hỏi thăm tên họ phòng ngày đền ơn

Lão tiều trở lại lâm sơn

Tiên, Minh vội vã phản hoàn am mây

Tiên rằng: Ðã gặp khoa này

Cớ sao ngọc hữu ở đây làm gì?

Minh rằng: Xưa dốc xuống thi

Gặp nơi miếu võ cùng đi một lần

Anh thì trở lại viếng thân

Tôi thì mang gói trước lần xuống kinh

Ði vừa tới phủ Ô Minh

Gặp con quan huyện Ðặng Sinh là chàng

Giàu sang ỷ thế dọc ngang

Gặp con gái tốt cưỡng gian không nghì

Tôi bèn nổi giận một khi

Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò

Mình làm nỡ để ai lo

Bó tay chịu trói nộp cho huyện đàng.

Án đày ra quận Sóc phang

Tôi bèn vượt ngục lánh đàng đến đây

Vừa may lại gặp chùa này

Mai danh ẩn tích bấy chầy náu nương

Vân Tiên nghe nói thảm thương

Lại bày mọi khúc tai ương phận mình

Minh nghe Tiên nói động tình

Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng

Tiên rằng: Thương cội thung huyên

Tuổi cao tác lớn chịu phiền lao đao

Trông con như hạn trông dào

Mình này trôi nổi phương nào biết đâu

Vầng mây giăng bạc trên đầu

Ba năm chưa trọn một câu sinh thành

Hữu tam bất hiếu đã đành

Tiểu đồng trước đã vì mình thác oan

Tưởng thôi như cắt ruột gan

Quặn đau chín khúc, chứa chan mấy lần.

Minh rằng: Người ở trong trần

Có khi phú quí, có lần gian nan

Thấp cao vàng biết tuổi vàng

Gặp khi lửa đỏ màu càng thêm xuê

Thôi thôi anh chớ vội về

Ở đây nương náu toan bề thuốc thang

Bao giờ hết lúc tai nàn

Ðem nhau ta sẽ lập đàng công danh

Cam La sớm gặp cũng xinh

Muộn mà Khương tử cũng vinh một đời

Nên hư có số ở trời

Bôn chôn sao khỏi, đổi dời sao xong

Vân Tiên khi ấy an lòng

ở nơi am tự bạn cùng Hớn Minh

Võ công làm việc trớ trinh

Chú thích:

1.Ba thứ tóc trên đầu: đầu đã đốm bạc, có ba thứ tóc đen, vàng (dở đen dở trắng) và trắng.

2.Âu: âm chính của chữ "ưu": lo

3.Lo lừa: lo tính , mưu làm một việc gì.

4.Lư-san: một núi có nhiều thắng cảnh ở tỉnh Giang-Tây, Trung-Quốc, đời Ân, Chu, anh em Khuôn Tục làm nhà ở ẩn trên núi này, nên cũng gọi là núi Khuông-Lư.

5. Ngũ viên: tên tự là Tử Tư, một tướng tài đời Xuân Thu, người nước Sở, cha và anh bị Sở Bình Vương giết, Tử Tư chạy trốn sang Ngô. Ðến một dòng sông, gặp ngư phủ, ngư phủ thấy Tử Tư đói, đi kiếm cơm cho ăn, và chở qua cứu thoát nạn. Sau Tử Tư giúp Ngô đánh phá Sở, báo thù cho cha anh.

6.Ðình trưởng: đời Tần, Hán, cứ mười lý đặt làm một đình, có đình trưởng coi giữ trộm cướp, Ðình còn gọi là nhưng quán nghỉ lập dọc đường, năm dặm một "đoản đình", mười dặm một "trường đình" .

7.Hạng Võ (Vũ): một tướng tài có sức mạnh phi thường, đã đánh phá nhà Tần, lập nên cơ nghiệp nước Sở, tự xưng là Tây Sở Bá vương, giành thiên hạ với Lưu Bang tức Cao Hán Tổ, nổi tiếng bách chiến bách thắng trong cuộc "Hán Sở tranh hùng" . Sau cùng, Hạng Vũ lại thua to, chạy đến sông Ô-Giang giáp đất Giang-đông, xứ sở của Vũ. Một người đình trưởng biết Vũ, chào thuyền mời Vũ qua sông để về Giang-Ðông. Vũ nghĩ thẹn với đồng bào và xứ sở của mình, không chịu về và lấy gươm tự tử.

8.Ân tình thế lợi khó tuyền đặng vay: một bên là ân tình, một bên là lợ thế (quyền thế, tài lợi), mâu thuẫn nhau, khó trọn vẹn được cả hai.

9.Ai cho sen muống một bồn: không ai trồng cây sen và rau muống trong một chậu

10.Phồn: tiếng miền Nam, có nghĩa là hạng người, như ta nói quân này, quân kia.

11.Thà không chót chịu một bề: thà không chồng mà ở một mình còn hơn.

12.Danh nhu (nho): người học trò nổi tiếng

13.Thủ khoa: người đậu đầu trong khoa thi hương.

14.Nhà cầu: cái nhà ngang nối nhà trước với nhà sau.

15.Tam canh: Canh ba (một đêm có năm canh)

16.Gay: buộc mái chào vào cọc chào, sửa soạn bơi thuyền đi.

17.Trớ trinh: tráo trở, đành hanh, trêu ngươi.

18.Cheo: tên một con thú, thuộc loài sóc.

19.Oan gia: chính chữ là "oán gia", tục (tiếng tục Trung-quốc), gọi trại là oan gia, chỉ kẻ oán thù với mình hay sự oán thù nói chung. Ðây là Vân Tiên nói có lẽ kiếp trước mình có nợ oán thù gì với Võ công, nên mới bị hãm hại như thế này (nói theo thuyết nhà Phật).

20.Thạch bàn: bàn đá, tảng đá lớn và phẳng.

21.Mưa tro: (tiếng miền Nam) mưa bụi, mưa phùn.

22.Du thần: vị thần đi dạo các nơi để xem xét nhân gian

23.Phù tiên: bùa tiên để giữ mình, tức đạo bùa của thầy Vân Tiên cho khi Vân Tiên đi thi.

24.Ðại lộc: lộc là chân núi, đại lộc tức dưới chân núi lớn (theo Kinh thư).

25.Sơn trung: trong núi.

26.Tới đường đại lộc là chừng: chừng: mức độ ấy, khoảng ấy, nói ông tiều qua rừng tới khoảng đường chân núi thì nghe thấy tiếng Vân Tiên ở quanh nơi đấy. Chữ "đại lộc" ở đây cũng như chữ "đại lộc" trên kia, nhiều bản chép là đại lộ (đường cái), xét ra không đúng nghĩa chỗ này. Du thần chỉ đưa Vân Tiên ra khỏi hang một dặm tới dưới chân núi trong rừng thôi, chứ không đưa ra ngoài đường cái, vì câu dưới nói: "Có tiếng trong rừng thở than", và mãi tới dưới nữa lại có câu: "Khỏi rừng ra tới ngã ba", rõ là Vân Tiên trước còn ở trong rừng, mãi sau ông tiều mới cõng ra đường cái.

27.Nhát (hoặc nát): dọa cho người ta sợ

28.Trong tuyết đưa than (hoặc cho than): do thành ngữ chữ Hán "Tuyết trung tống thán": cho than để sưởi ấm khi trời tuyết. Tống Thái Tông nhân tiết mưa tuyết, trời rét lắm, sai cho những người già yếu nghèo khổ than sưởi và gạo ăn. Nhân đó, người ta thường dùng chữ "Tuyết trung tống thán" để chỉ sự giúp đỡ người khi cần kíp cùng quẫn.

29.Khó ngồi giữa chợ, ai màng đoái thương: do câu thơ chữ Hán: "Bần cư nào thị vô nhân vần. Phú tại thâm sơn hữu khách tầm" nghĩa là người nghèo ở ngay giữa chợ búa nhộn nhịp không ai hỏi han, giàu ở tận trong núi sâu cũng có kẻ tìm đến.

30.Ẩn dật: ở ẩn không theo thế tục.

31.Hồi: trả lại, đền lại. Nói làm ơn mà trông báo đáp lại sao nên.

32.Bôn trình: đi vội trên đường, như nói rảo bước.

33.Còn nghi nỗi mình: Vân Tiên đã bị Trịnh Hâm và Võ công tráo trở hãm hại, nên tuy mừng gặp bạn cũ, nhưng vẫn còn nghi ngại nỗi mình.

34.Nhân huynh: người anh tốt, tiếng xưng hô.

35.Bán chầu: bán vào buổi ấy.

36.Non tòng: núi có nhiều cây thông.

37.Lộc rừng: lộc của rừng cho (đây là củi)

38.Lâm sơn: rừng núi.

39.Phản hoàn: quay trở về. Am mây: chùa trong mây, tức chùa trong núi. Ðây là ngôi chùa ở nơi vắng vẻ.

40.Ngọc hữu: bạn ngọc, bạn quí như ngọc

41.Viếng thân: thăm cha mẹ

42.Cưỡng gian không nghì: lấy sức mạnh mà hãm hiếp phụ nữ

43.Bẻ đi một giò: bẽ gãy một chân

44.Huyện đàng (đường ): dinh quan huyện

45.Sóc phang (phương): cũng như Bắc phương, nói quận ở phương Bắc.

46.Mai danh, ẩn tích: vùi tên, giấu tích, không cho ai biét đến mình.

47.Dào: mưa dào, mưa to.

48.Sinh thành: đẻ ra và nuôi dạy nên người, chỉ công ơn cha mẹ

49.Hữu tam bất hiếu: rút ra ở câu chữ Hán: "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" nghĩa là bất hiếu có ba điều, không có con là điều nặng nhất. Ðây nói: mình phải bỏ cuộc thi, chưa lập được công danh, để báo đáp công ơn cha mẹ, lại đeo tật bệnh, chưa lập được gia đình, để nối dõi dòng giống, thật là điều bất hiếu to lớn.

50.Tiểu đồng trước đã vì mình đã thác oan: câu này nối câu trên nói: đã không vẹn đạo con với cha mẹ, lại không vẹn tình thầy với trò, Vân Tiên cảm thấy vô cùng chua xót .

51.Cam La: người nước Tần thời Chiến quốc, sớm có tài mưu lược, mười hai tuổi đã đi sứ sang nước Triệu, vua Triệu thân ra đón tận ngoại thành và phải nhượng đất cho Tần, khi thành công về nước, được phong là chức Thượng Khanh.

52.Khương tử: ông họ Khương ("tử" là tiếng xưng hô chung về nam giới của Trung-quốc, như ta nói ông, chàng, gã v.v...), tức Khương tử Nha, xem chú thích ở câu 515. Hai câu này nói: công danh được sớm như Cam La (mười hai tuổi) càng hay, mà dù muộn như Khương tử (hơn tám mười tuổi) cũy vẫn vẽ vang .

53.Bôn chôn: vội vàng, hấp tấp, nóng ruột.

54.Am tự: am, chùa, chùa chiền.

Cỡ chữ: 18
Màu nền:

Sách - Truyện Khác

Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Ngô gia văn phái

Hoa-Tiên Truyện

Hoa-Tiên Truyện

Nguyễn Huy Tự

Hịch Đánh Trịnh

Hịch Đánh Trịnh

Nguyễn Hữu Chỉnh

Hịch Tướng Sĩ

Hịch Tướng Sĩ

Trần Quốc Tuấn

Hạnh Thục Ca

Hạnh Thục Ca

Nguyễn nhược Thị

Huế Và Thơ

Huế Và Thơ

Thiên Nhất Phương

Gia Huấn Ca

Gia Huấn Ca

Nguyễn Trãi

Dương Từ Hà Mậu

Dương Từ Hà Mậu

Nguyễn Đình Chiểu

Điển Hay Tích Lạ

Điển Hay Tích Lạ

Nguyễn Tử Quang

Cung Oán Ngâm Khúc

Cung Oán Ngâm Khúc

Ôn-như Hầu Nguyễn gia Thiều

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Đặng Trần Côn

Chinh Phụ Ngâm

Chinh Phụ Ngâm

Đặng Trần Côn

Chí Linh Sơn Phú

Chí Linh Sơn Phú

Nguyễn Trãi

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Trần Nhân Tông

Bình Ngô Đại Cáo

Bình Ngô Đại Cáo

Nguyễn Trãi

Bạch Đằng Giang Phú

Bạch Đằng Giang Phú

Trương Hán Siêu

Tuyển Chọn Truyện Kiếm Hiệp Tuyển Chọn Truyện Trinh Thám